Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Thánh Augustinô, bậc trí thức của mọi thời


1. Hối nhân trở thành thánh nhân
Thánh Augustinô sinh ngày 13 tháng 11 năm 354, tại Tagaste, nay là thành phố Souk-Ahras thuộc nước Algeria, nằm phía Bắc Phi Châu. Cha ngài là thị trưởng Patricius, thuộc gia tộc quyền quý và mẹ là Monica, một tín hữu công giáo, đạo hạnh, gương mẫu và giàu nhân đức. Mẹ Monica đã kiên trì cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn và mở lòng người chồng và người con trai yêu quý tìm về nguồn Chân Thiện Mỹ. Ơn Chúa rất huyền nhiệm và linh động nơi cuộc đời Augustinô.
Khi còn bé, Augustinô là một cậu bé tinh nghịch, thông minh xuất chúng, nên cậu là niềm hãnh diện của ông Patricius. Sau 16 năm sống với gia đình tại Tagaste, ngài đã được cha mẹ cho đi học về văn khoa hùng biện tại Carthage vào cuối năm 370.
Thành phố Carthage là một thành đô phồn thịnh, những toà nhà nguy nga lộng lẫy, thổ dân ở đây đa số là đa thần, và lối sống cao xa dễ đưa con người vào con đường xa hoa trụy lạc. Cuộc sống ở đô thành đã thu hút biết bao bạn trẻ, và Augustinô cũng không ngoại lệ. Tuy con đường học vấn trổi vượt hơn các bạn học nhưng đời sống tâm linh và luân lý bị suy sụp.
Năm 19 tuổi, Augustinô đã trở thành giáo sư triết học. Sự thành công trong học vấn đã tạo cho ngài một chỗ đứng vững vàng trong xã hội. Những kiến thức thâm thúy và sự khôn ngoan của triết gia Cicero đã gợi trong tâm thức Augustinô nỗi khát vọng tìm kiếm sự khôn ngoan chân thật. Khi nghe giáo chủ của giáo phái Manikê hùng biện về giáo thuyết của họ, ngài bị thu hút và đã gia nhập giáo phái này. Với tài hùng biện sẵn có, ngài đã thuyết phục được bao nhiêu người gia nhập vào giáo phái đó.
Sau những năm theo học tại Carthage, năm 373, ngài trở về quê Tagaste, nhưng mẹ ngài không thể đón nhận một người thuộc bè phái Manikê dù đó là con trai của mình. Nhưng tình yêu đã khiến Monica tha thứ và hết lời khuyên con trở về chính lộ. Thời gian ở Tagaste, Augustinô đã mở lớp dạy môn khoa Ngữ Văn để kiếm tiền sinh sống.
Suốt 9 năm làm tín đồ Manikê, đến năm 383, khi tròn 29 tuổi, ngài ao ước sang Ý để lập nghiệp, nhưng ý định này không được mẹ tác thành. Tuy nhiên, ngài vẫn trốn mẹ mà đi sang thánh đô Rôma, nước Ý. Khi đến nơi, ngài đã lâm trọng bệnh và sau khi hồi phục ngài đã mở lớp dạy chuyên khoa văn hùng biện. Học sinh ở đây không trả lệ phí nên ngài nản lòng và bỏ dạy. Cuối cùng, ngài xin dạy tại đại học ở Milan. Là một giáo sư dạy triết học, ngài say mê tìm kiếm và đào sâu vào triết lý của Plato.
Năm 384-387, là giai đoạn khủng hoảng niềm tin. Giai đoạn khủng hoảng được chấm dứt khi ngài nghe bài giảng thật huyền nhiệm của thánh Giám mục Ambrôsiô. Phục Sinh năm 387, Augustinô được Rửa tội tại Nhà thờ Milan. Ít lâu sau, đang khi phải chiến đấu dữ dội với những ham muốn của xác thịt, ngài đã nghe như có tiếng thúc bách từ nội tâm là hãy cầm sách Thánh lên để đọc. Ngài mở thư thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Rôma: “Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,13-14). Niềm vui và sự bình an khôn tả tràn ngập tâm hồn Augustinô và đã biến đổi cuộc đời của ngài hoàn toàn.
Hè năm 387, Augustinô cùng với mẹ và các bạn đồng hành đến cảng Ostia. Ít lâu sau, mẹ ngài qua đời và được chôn cất tại đây. Năm 388, ngài trở về Tagaste. Cùng với người bạn Alypius, ngài đã thành lập đan viện để sống chiêm niệm. Năm 391, ngài được phong chức linh mục thành Hippo và ở đây cho đến chết.
Khi nhận ra Đức Kitô là nguồn ơn cứu độ, ngài đã viết rất nhiều sách để phi bác các lạc thuyết thời bấy giờ. Năm 395, ngài được phong làm phụ tá Đức Giám mục thành Hippo. Sau khi Đức Giám mục Valerius thành Hippo băng hà năm 396, thánh Augustinô lên kế vị. Sự khôn ngoan và thánh thiện của ngài đã giúp cho Giáo hội Phi Châu tiến triển rất nhiều. Ngài còn để lại những bộ sách quý giá về thần học, minh giáo và chú giải Thánh Kinh. Trong suốt quãng thời gian làm Giám mục, ngài còn thể hiện một tinh thần khiêm tốn và tình huynh đệ bác ái tuyệt hảo đối với các linh mục dưới quyền ngài.
Sau khi trở lại, thánh Augustinô sống nhưng không còn phải là ngài sống nữa, mà là Đức Kitô sống nơi ngài. Khi mọi sự đã hoàn tất, Chúa đã gọi ngài một lần nữa qua cơn bệnh trầm trọng và đã qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430 tại Hippo. Ngài đã được phong thánh và được nâng lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1303.
Thánh Augustinô trở lại vào năm 33 tuổi và 3 năm sau Ngài trở thành linh mục, rồi năm 41 tuổi làm giám mục. Ngài biết Chúa và yêu Chúa tuy muộn màng nhưng thật nồng cháy “Con đã yêu mến Ngài quá muộn, ôi Đấng tốt đẹp rất cổ kính và rất tân kỳ! Con đã yêu mến Ngài quá muộn!
"Này, Ngài vốn ở trong con, mà con lại ở ngoài con và vì thế con tìm Ngài ở bên ngoài; là kẻ xấu xa, con đã lăn xả vào những vật xinh đẹp Ngài đã tạo dựng nên. Ngài đã ở với con mà con lại không ở với Ngài. Chính những vật, nếu không hiện hữu trong Ngài thì không bao giờ hiện hữu, đã cầm giữ con xa Ngài. Ngài đã kêu gọi, đã gào thét, đã thắng sự điếc lác của con. Ngài đã soi sáng, đã chiếu rọi, đã xua đuổi sự mù lòa của con. Ngài đã tỏa mùi thơm của Ngài ra và con đã được hít lấy và đâm ra say mê Ngài. Con đã được nếm Ngài, và đâm ra đói khát Ngài; Ngài đã đụng tới con và con ước ao sự bình an của Ngài”. (Tự thuật X, 27, 38 ). Ngài đã cầu nguyện, đọc tìm hiểu Kinh Thánh và lắng nghe Lời Chúa nên luôn thao thức “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa và tâm hồn con luôn khắc khoải cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa” (Tự thuật I, 1, 1).
2. Thánh Augustinô, bậc trí thức của mọi thời
Thánh Augustinô để lại cho Giáo hội một kho tàng tư tưởng quý giá trong 252 cuốn sách lớn nhỏ, 509 bài giảng đủ loại, và 207 lá thư xa gần. Những tư tưởng bất hủ của ngài thường được trích từ ba cuốn sách nổi tiếng là: Những thú nhận, Thành trì của Thiên Chúa, về Chúa Ba Ngôi.
Nội dung tư tưởng phần lớn tập trung vào ba lãnh vực: Triết học, thần học, linh đạo. Hình thức ngài dùng để diễn tả nội dung là rất phong phú. Tất cả đều mang dấu ấn của một người học cao về văn chương và hùng biện.
Đọc những tác phẩm của thánh Augustinô, người nghiên cứu thấy: Phần, mà ngài nhận được bởi người khác, là rất đa dạng. Phần, mà ngài tự suy nghĩ ra, là rất sâu sắc. Ngài đã là giáo sư ở Thagaste, Carthage, Roma và Milan. Ngài có quan hệ mật thiết với nhiều bạn bè trí thức, trong đó có thánh Ambrôsiô.
Trí thức của thánh Augustinô được nhận thấy ở điểm chung này là: Say mê đi tìm sự thật, lẽ phải và đức khôn ngoan. Đối tượng là Thiên Chúa và con người. Sau khi đã mải miết đi tìm ở các trường phái, các trường học, các học giả, thánh nhân đã đi tìm nơi Đức Kitô. Ngài thú nhận: Chỉ Đức Kitô mới cho ngài thấy rõ sự thực, lẽ phải và sự khôn ngoan. Chỉ Đức Kitô mới là thầy chỉ cho ngài thấy con đường phần rỗi. Đức Kitô dạy ngài qua gương đạo đức của mẹ ngài là thánh Monica, qua Lời Chúa và trong nội tâm sâu thẳm của ngài. Ngài ghi lại tất cả cuộc đời thăng trầm của ngài một cách rất khiêm nhường. Với những tư tưởng trí thức trộn vào những kinh nghiệm bản thân, thánh Augutinh đã phản bác các bè rối một cách trí thức và đạo đức. Cũng với trí thức và đạo đức, ngài đã lập cộng đoàn tu viện ở Thagaste, đã sống đời mục vụ khi làm giám mục ở Hippone. Tại đây, ngài cũng đã trí thức trong lối sống của ngài.
Một chọn lựa đã được thánh Augustinô hay nhắc tới, đó là đời sống bên trong hơn đời sống bên ngoài. Trong mục vụ, thánh Augustinô lo cho đời sống bên ngoài của con chiên bằng nhiều cách, nhất là bằng cách dạy bảo, cảnh báo, khuyên răn. Nhưng điều quan trọng hơn ngài luôn cố gắng là, lo cho con chiên đi vào nội tâm mình, để gặp gỡ Đức Kitô. Trong cố gắng ấy, ngài thường nhấn mạnh đến đời sống phục vụ trong yêu thương, tình nghĩa theo gương Đức Kitô. Chính Đức Kitô mới là Đấng dạy dỗ nội tâm và đổi mới con người bên trong. Vì thế, mục đích sau cùng, mà ngài nhắm tới trong mọi bài giảng, là dẫn con người đến với Đức Kitô.
Thánh Augustinô là niềm tự hào của giáo phận Hippone, của Hội Thánh Phi châu, của Hội Thánh toàn cầu.
Nếu nhìn Hội Thánh Việt Nam qua gương trí thức của ngài, chúng ta sẽ thấy mình còn nhiều điều phải cố gắng thêm.
Bước đầu của trí thức là biết nhận thấy vấn đề. Trong lãnh vực tư tưởng cũng như trong lãnh vực đời sống, trí thức vẫn là một tiếng gọi. Dù đối thoại, dù đối kháng, chúng ta cần phải trí thức. Nhất là trí thức Phúc Âm. Những chọn lựa đạo đức, nếu thiếu chiều sâu trí thức, sẽ khó có thể làm cho Chúa được vinh quang trên đất nước Việt Nam hôm nay một cách hữu hiệu và lâu bền.
Trên đất nước Việt Nam hôm nay và ngày mai, trí thức đang và sẽ phát triển ở mọi tầng lớp. Trí thức cũng đang được khát khao ngay ở thôn quê bình dân nghèo túng.
Ước mong Công giáo Việt Nam khi hiện diện và đồng hành, sẽ không thiếu một đội ngũ trí thức tầm cỡ đi đầu. Vừa trí thức trong đạo, vừa trí thức ngoài đời. Khối trí thức ấy sẽ sát cánh kề vai với các trí thức xã hội, để cùng với tất cả đồng bào, xây dựng quê hương chung là Việt Nam yêu mến của chúng ta. Chúng ta thành khẩn dâng lên Chúa mong ước trên đây với tâm tình cầu nguyện khiêm cung. (x. Vietcatholic 27-8-2010, nhân lễ kính thánh Augustinô, suy nghĩ về trí thức; ĐGM Bùi Tuần).
3. “Giám mục vì anh chị em, Kitô hữu với anh chị em”
Cho anh chị em, tôi là Giám mục, cùng với anh chị em tôi là Kitô hữu. Tước hiệu thứ nhất là trách vụ đã lãnh nhận, tước hiệu thứ hai là của ân sủng. Tước hiệu đầu nói lên mối nguy hiểm, tước hiệu sau nói lên ơn cứu độ.
Thánh Augustinô đã sống một đời sống cầu nguyện liên lỉ, không ngừng đào sâu Kinh Thánh. Kinh nguyện trong cộng đoàn giúp ngài thêm mạnh mẽ. Sự ân cần của ngài đối với mọi người luôn là một huyền thoại: những người dự tòng chuẩn bị bí tích Rửa Tội, những người bị mất phương hướng luân lý viết thư xin ngài chỉ giáo, những giáo lý viên chán nản, những linh mục mất định hướng thần học…
Đối với Augustinô, người Kitô hữu phải kết hợp thành một thân thể duy nhất với Chúa Kitô. Vả lại, cuộc sống Kitô hữu là gì, nếu không phải là mặc lấy Chúa Kitô, tái sinh trong Thiên Chúa và trong sự thăng tiến tâm linh cho đến lúc gặp gỡ Thiên Chúa mặt đối mặt?
Cầu nguyện
Ôi thánh Augustinô ngàn đời hạnh phúc.
Thiên Chúa đã chọn Ngài để trở thành mục tử của Hội Thánh. 
Thiên Chúa đã ban cho Ngài đầy tinh thần Khôn ngoan và thông hiểu. 
Suốt đời, Ngài đã tìm kiếm Thiên Chúa với cả con tim thổn thức của mình. 
Trong đức tin, với lòng tín thác, tình yêu và sự bền chí, chúng con kêu cầu Ngài vì Ngài là cha chúng con: 
Xin giúp chúng con được củng cố trong đức tin, đức cậy và đức mến. 
Xin giúp chúng con biết noi gương Ngài luôn khát khao Thiên Chúa là nguồn mạch của sự khôn ngoan đích thực. 
Xin cũng giúp chúng con tìm thấy sự nghỉ an trong Thiên Chúa, chủ thể tình yêu vĩnh cửu mà thôi. Amen.
(Lời nguyện trong tuần cửu nhật chuẩn bị Năm Thánh của Tiểu chủng viện Thánh Augustinô-Koupélà).

Thánh Nữ Mônica


                                                                   Thánh Nữ Mônica
Thánh Mônica lập gia đình và hoàn thành sứ mạng mà Thiên Chúa trao ban qua ơn gọi làm vợ và làm mẹ. Làm vợ, ngài hết tình yêu thương và chiều chuộng chồng, tính nết hiền lành và đạo đức đó là bí quyết mà thánh nhân dùng để bảo vệ hạnh phúc gia đình.Làm mẹ,ngài tận tình chăm sóc và giáo dục con cái, nhất là đời sống đạo đức.Nhờ đó mà chồng con đều lần lượt trở lại đạo Chúa. Mônica nên thánh trong một đời sống gia đình, rất bình thường như những gia đình của mỗi người. Điều đó cũng làm cho chúng ta, nhất là các bà mẹ công giáo thử đặt lại vấn đề,tại sao tôi không dùng chính đời sống gia đình của mình để làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày? Là một người vợ hay một người mẹ, tôi đã cầu nguyện với Chúa mỗi khi chồng con khô khan, nguội lạnh hay thậm chí mất đức tin…
Lạy Thánh M
onica, bổn mạng của giới Hiền mẫu, qua lời bầu cử của Ngài, xin cho các người vợ, người mẹ có đời sống thánh thiện, hiền lành, yêu thương và nhẫn nhục, để hướng dẫn gia đình trong tình thương của Thiên Chúa. Giữa một cuộc sống đầy thử thách, tình trạng chối bỏ sự sống ngày càng lan tràn, giáo dục con cái trở nên đầy thách đố. Xin cho các gia đình luôn biết lắng nghe và thực thi lời dạy của Chúa qua những giáo huấn của Giáo hội. Amen.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

KHOÁ CỬA KHÔNG CHO VÀO

KHOÁ CỬA KHÔNG CHO VÀO

Trong bí tích Thánh Tẩy, mỗi tín hữu đều lãnh nhận 3 chức vụ: tư tế (phụng tự), tiên tri (loan báo) và vương đế (phục vụ bác ái). Ơn gọi người Ki-tô hữu là sống và thi hành trọn vẹn các chức vụ này, không chỉ cho bản thân, mà còn cho những ai “thuộc về mình”, nghĩa là những ai tôi có trách nhiệm với họ: gia đình, họ hàng, bạn hữu, những người làm việc với tôi…. Cho bản thân, tôi phải nỗ lực thánh hóa đời sống tôi mỗi ngày; cho người khác, tôi giúp họ trở nên “môn đệ Chúa Ki-tô”. Nỗ lực này không chỉ dừng lại ở khía cạnh tiêu cực (không làm điều xấu, không làm hại ai), mà còn tích cực (làm việc tốt, làm gương sáng), chứng nhân cho Đức Kitô, và Tin Mừng của Ngài.
Lạy Chúa Giê-su, xin ban Chúa Thánh Thần thanh lọc con khỏi con người ích kỷ và giả dối, kiêu căng và tham lam, để đời sống con không bao giờ trở nên “chướng ngại” hoặc gương mù gương xấu cho anh chị em con.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

CON NGƯỜI LÀ AI?

Chúa Nhật 21 Thường Niên A
Con Người là Ai?
Mt 16,13-20
 Phượng Vĩ 24/8/2014

Kính thưa....
Một anh lính giải một nhà sư bị tù lên tỉnh. Anh ta có tính hay quên, nên vừa đi vừa lẩm bẩm, kiểm lại người và đồ đạc cho khỏi quên: “Khăn gói đây, dù đây, gông đây, lệnh toà đây, sư đây, mình đây. Khăn gói đây, dù đây, gông đây, lệnh toà đây, sư đây, mình đây...” Nhà sư biết đây là “dân thứ thiệt”,nên tìm cách đánh lừa. Sư rủ anh lính vào quán uống rượu, nhậu thịt chó một bữa say mèm. Trong khi anh lăn quay ra ngủ, sư lấy dao cạo trọc đầu anh lính, tháo gông đeo vào cổ anh ta, rồi trốn mất. Khi tỉnh dậy, theo thói quen, anh lính kiểm lại hết mọi sự, miệng lẩm bẩm: “Khăn gói đây, dù đây, lệnh tòa đây, gông đây...” Đến đó anh giật mình thét lên:
- Còn nhà sư đâu mất tiêu rồi.
Anh ta cuống quít vo đầu, thấy đầu trọc lóc nên mừng rỡ la lên:
- Nhà sư đây rồi!
Anh ta chợt sực nhớ lại điều gì nên than thở:
- Quái lạ! Còn mình đâu mất rồi mà không thấy đâu?

Người lính đãng trí đã không nhớ mình là ai. Tuy nhiên trong đời sống, có nhiều lần chúng ta thật sự không nhớ mình là ai trong hành động, trong những việc chúng ta làm.

Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ qua từng giai đoạn. Đầu tiên Chúa hỏi về dư luận quần chúng, người ta gán cho Ngài biệt hiệu gì? Chung chung người ta cho rằng Chúa Giêsu là một tiên tri. Sau đó Chúa mới hỏi các môn đệ nghĩ Ngài là ai. Phêrô đã mau lẹ trả lời thay cho cả nhóm: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Chúa nói cho Phêrô biết, không phải tự bản thân ông biết được điều đó, nhưng chính Chúa Cha mạc khải cho ông điều đó. Dầu vậy, Phêrô hiểu biết chưa tới nơi tới chốn, tuy rằng Chúa đã trao cho ông chìa khoá Nước Trời. Chúa muốn tiếp tục tỏ cho các môn đệ thấy danh xưng Kitô đồng nghĩa với thánh giá đau khổ, tử nạn. Mạc khải này đã bị Phêrô lanh miệng từ chối, nên Chúa Giêsu đã quở mắng ông.

Chúa Giêsu không quan tâm đến điều người ta nghĩ Ngài là ai. Chúa dùng đó để mở đầu việc mạc khải chính mình cho các môn đệ. Khác với Chúa, chúng ta thường quá quan tâm đến điều người ta nghĩ về mình. Chúng ta tìm cách làm đẹp lòng người khác để được quý mến, ủng hộ. Chúng ta hùa theo đám đông để cầu an, khỏi bị để ý, chống đối. Vì thế chúng ta sống một cuộc sống giả tạo, không phù hợp với căn tính của mình. Thiên Chúa sai mỗi người vào thế giới với một sứ mệnh, cùng với những tặng ân cần thiết để hoàn thành sứ mạng. Sứ mạng và những tặng ân đó nói cho chúng ta biết mình là ai và phải làm gì. Chúng ta cần quan tâm đến điều đó, hơn là nhìn chung quanh để thấy người ta làm gì thì mình làm theo. Nếu Chúa ban cho khả năng lãnh đạo, có óc tổ chức, chúng ta cần đem tài năng đó để phục vụ giáo xứ cộng đoàn. Ngược lại, nếu Chúa chỉ ban cho chúng ta khả năng phục vụ, làm người thừa hành, chúng ta đừng ham hố danh lợi, trèo cao, giật cho được chức chủ tịch, trưởng ban nọ, ban kia, không làm được gì mà gây hại cho giáo xứ.


Chúa mạc khải cho các môn đệ rằng danh xưng Kitô mang ý nghĩa thánh giá, đau khổ, tử nạn. Danh tánh căn bản của mỗi người chúng ta là Kitô hữu. Cuộc sống của chúng ta chắc chắn không khác gì Chúa Kitô. Nếu danh xưng Kitô hữu là điều làm chúng ta hãnh diện, hy vọng, tin tưởng, thánh giá sẽ là vinh quang của chúng ta trong cuộc sống đời đời. Chúng ta hãy luôn ngước mắt chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thánh giá, để khi đau khổ, khó khăn đến trong cuộc đời, chúng ta không lanh miệng chối bỏ như Phêrô, nhưng hân hoan reo vang như Phaolô: “Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô.”

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

ĐỪNG SỢ !



CHÚA NHẬT XIX TN A: ĐỪNG S

Một câu chuyện kể rằng, trên một chuyến tàu biển chở khách vượt đại dương, bỗng nhiên bão táp nổi lên dữ dội, biển gầm sóng vỗ. Mọi người đều lo sợ vì cảm thấy cái chết cận kề. Họ hoảng loạn, hoang mang lo chuẩn bị cho mình phao cứu hộ. Lúc đó, họ thấy một em bé vẫn bình thản với mấy thứ đồ chơi trẻ em của mình. Một hành khách hỏi: “Cháu có sợ tàu chìm không?”. “Không!” – em bé trả lời. “Tại sao cháu không sợ?” – “Vì biết bố cháu là người lái tàu rất tài ba, nên chắc chắn tàu sẽ đến bến an toàn!”.
Sau một loạt những tai nạn hàng không liên tiếp xảy ra trong thời gian vừa qua, nhiều người sợ không dám đi máy bay nữa. Nỗi sợ hãi không chỉ trong lãnh vực giao thông, mà có thể nói, nó bao trùm cuộc sống. Cái chết rình rập nơi cửa ngõ, thậm chí trên chính bàn ăn hàng ngày. Người ta sợ hãi trước hiện tượng thực phẩm nhiễm hóa chất độc hại, môi trường ô nhiễm, tai nạn giao thông. Trong cuộc sống chao đảo và đầy dối trá này, con người có nguy cơ mất định hướng và mất hy vọng.
Thánh Mátthêu ghi lại việc Chúa Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ. Việc Chúa đi trên mặt nước thì chẳng có gì phải bàn, vì Chúa là Thiên Chúa quyền năng. Điều gây sự chú ý là ở chỗ chính Phêrô cũng đi trên mặt nước được. Tuy vậy, ông chỉ đi được trên mặt nước khi ông làm theo lệnh Chúa và khi ông xác tín vào Chúa. Liền sau đó, khi ông lo sợ sóng gió bão táp thì ông bị chìm xuống nước. Bài học rút ra ở đây là khi chúng ta cậy tin vào Chúa thì có thể làm được mọi sự. Nói cách khác, nhờ quyền năng và ân sủng của Chúa thì mọi sự trở nên dễ dàng, còn nếu cậy dựa vào khả năng cá nhân của mình, hoặc nghi ngờ quyền năng của Chúa thì một việc tuy  đơn giản cũng không thể thực hiện được. Lời quở trách của Chúa đối với ông Phêrô đã chứng minh điều đó.
Đối diện với biết bao nỗi sợ trong cuộc đời, nếu chúng ta tin rằng Chúa là Đấng điều khiển mọi sự, như em bé biết chắc cha mình là một người lái tàu tài ba, thì chúng ta chẳng còn gì mà sợ hãi.
“Thầy đây, đừng sợ!”. Lời trấn an của Chúa làm cho các ông an lòng. Ngày hôm nay, giữa đại dương mênh mông của cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đang nói với chúng ta những điều ấy. Lời Chúa đem lại cho chúng ta sự bình an của tâm hồn, đồng thời vững bước đi trong cuộc sống. Chúa đang đi trên mặt “biển đời” để đến với chúng ta. Một khi có Chúa, chúng ta không còn sợ hãi và lo lắng. Một khi có Chúa, chúng ta cũng không làm điều gì gây sợ hãi và lo lắng cho anh chị em chúng ta. Tin vào Chúa không chỉ giúp chúng ta tìm thấy sự bình an, mà chúng ta được hướng dẫn bởi Đức tin để sống với một lương tâm công bằng, ngay thẳng, tôn trọng phẩm giá và ích lợi của những người xung quanh. Như thế, người nông dân tin Chúa sẽ làm ăn lương thiện trong lãnh vực nông nghiệp, người công nhân tin Chúa sẽ ngay thẳng trong các sản phẩm mình làm ra, người lãnh đạo ở bất cứ cấp nào, nếu tin Chúa sẽ không lợi dụng quyền chức mà làm lợi cho riêng mình.
Chúa vẫn đang hiện diện giữa chúng ta. Khi nhìn thấy Chúa đi trên mặt biển vào lúc đêm tối, các môn đệ quá khiếp đảm tưởng Người là ma. Vâng, trong đời sống Đức tin, vì kém hiểu biết, có những lúc chúng ta xây dựng hình ảnh Thiên Chúa giống như một bóng ma trong cuộc đời. Bóng ma làm người ta khiếp sợ trong chốc lát, nhưng khi nỗi sợ ấy qua rồi, thì đâu lại hoàn đấy. Những ai tin Chúa như là những bóng ma, thì nơi họ không có Đức tin đích thực. Đức Giêsu đến trần gian để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương chăm sóc chúng ta. Sợ hãi, bi quan, khiếp đảm đối với Chúa chỉ làm biến dạng hình ảnh đích thực về Ngài. Trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phanxincô đã cảnh báo một lối trình bày Thiên Chúa nghiêm khắc, với nỗi sợ hãi ám ảnh, làm cho con người thay vì mến Chúa lại khiếp đảm và run sợ khi đến với Ngài.
Có nhiều người nhân danh Thiên Chúa mà dùng vũ lực để khủng bố anh chị em mình. Tác giả sách Các Vua (Bài đọc I), chứng minh với chúng ta, Thiên Chúa hiện diện trong sự bình an. Khi con người sống hài hòa với mọi loài thọ tạo và hài hòa với nhau thì Thiên Chúa hiện diện giữa họ để chúc lành. Con người luôn kiếm tìm Thiên Chúa và họ tưởng Ngài hiện diện trong những biến động của thiên nhiên hay giữa những ồn ào của phố chợ. Tuy vậy, giữa những ồn ào bon chen của chợ đời, người ta không thể gặp Thiên Chúa.
Trình thuật của Mátthêu cho thấy lòng tin của ông Phêrô các môn đệ đã được phục hồi sau khi Chúa nắm lấy tay Phêrô để kéo ông lên. Các ông bái lạy Người và thốt lên: “Quả thật Người là Con Thiên Chúa”. Các ông đã mạnh mẽ tuyên xưng Đức tin và đẩy lui nỗi sợ hãi.
Giữa cuộc đời bấp bênh và đầy nguy cơ này, chúng ta hãy đến với Chúa, xin Người kéo chúng ta lên khỏi nỗi sợ hãi trước những hiểm nguy đang rình rập chúng ta. Có Chúa, cuộc đời chúng ta sẽ vui tươi và an bình.