Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

CHÚA NHẬT XXX TN A: GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/8/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ tại Nhật, đó là "Sư máy".  Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi đưa lên, một tay thì gõ mõ.  Mỗi vị sư máy có thể cầu kinh không biết mỏi mệt, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật.  Sáng kiến này được đưa ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật.  Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận: những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương.
Yêu thương là đặc điểm của con người.  Thú vật có thể có cảm giác, nhưng đó không hẳn là yêu thương.  Chỉ có con người được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa tình yêu mới thực sự được mời gọi yêu thương mà thôi.
Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta ơn gọi cao cả của con người.  Trả lời cho thắc mắc của luật sĩ, Chúa Giêsu đã thu tóm tất cả lề luật thành một giới răn duy nhất là mến Chúa và yêu người.  Hai mệnh lệnh này là một giới răn duy nhất, bởi vì không thể kính mến Chúa mà lại ghét bỏ hình ảnh của Ngài là con người, cũng như không thể yêu thương con người mà lại không nhận ra và yêu mến Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu chân thật.  Tách biệt hai mệnh lệnh ấy là chối bỏ tình yêu.  Các luật sĩ và các biệt phái thời Chúa Giêsu quả là những người đạo đức: họ ăn chay, cầu nguyện và tỏ ra yêu mến Thiên Chúa hơn ai hết; thế nhưng Chúa Giêsu đã điểm mặt họ là những kẻ giả hình, bởi vì lòng yêu mến Chúa nơi họ không được thể hiện bằng tình yêu đối với tha nhân.  Chúa Giêsu còn gọi họ là những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì bóng loáng, nhưng bên trong thì thối rữa.  Có thể so sánh thái độ giả hình ấy với một người máy: người máy có thể làm được nhiều cử chỉ ngoạn mục, nhưng không có một tâm hồn để yêu thương thực sự.

Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Đạo.  Đi Đạo, sống Đạo, giữ Đạo, xét cho cùng chính là yêu thương; không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn.  Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: "Thiên Chúa là Tình Yêu", và ngài dẫn giải: "Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Đấng nó không thấy".

Nguyện xin cho cuộc sống của chúng ta ngày càng được thanh luyện và gần gũi hơn với cốt lõi của Đạo là Yêu Thương.



Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 19/10/2014 TẠI PHƯỢNG VĨ: SỐNG TRUNG THỰC TRONG THỜI BUỔI HIỆN ĐẠI

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 19/10/2014 TẠI PHƯỢNG VĨ
SỐNG TRUNG THỰC TRONG THỜI BUỔI HIỆN ĐẠI
            Kính thưa quý ÔBACE, đặc biệt là quý cô, dì, chú, bác, các anh chị, các, bạn, các em tôn giáo bạn hiện diện trong thánh lễ hôm nay. Hàng năm, giáo hội công giáo dành riêng một ngày Chúa Nhật áp chót tháng 10 để cầu nguyện cho việc truyền giáo. Truyền giáo là gì? Thưa: Truyền giáo theo nguyên nghĩa Latinh là “Missio”, động từ là “Mittere”. Động từ này nhiều nghĩa. Một trong những nghĩa thường được hiểu là: gửi đi, sai phái để làm một việc quan trọng. Vậy truyền giáo là ra đi kể lại cuộc đời của Chúa Giêsu về tất cả những gì Người đã nói, đã làm, và đã sống cho muôn dân, nhờ sức của Chúa Thánh Thần.
            Hôm nay, tôi xin kể cho quý ÔBACE nghe về Chúa Giêsu, Đấng “là Sự Thật” (Ga 14,6) cho quý ÔBACE nghe.
Sự Thật là Trung Thực. Trung thực là hết lòng với mọi người,là thật thà, là ngay thẳng. Người có đức tính trung thực là người luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, ngay thẳng, thật thà, là người luôn được mọi người tin tưởng. Trong cuộc sống ngày nay, đức tính trung thực được biểu hiện trong các kì thi của giới học sinh như không có hiện tượng quay cóp, chép bài hoặc xem bài của bạn...Và đức tính này cũng được biểu hiện trong xã hội như có những người ngay thẳng, không nỏi sai sự thật, không tham lam của người khác. Trong kinh doanh,nếu là người ngay thẳng, họ sẽ không sản xuất những loại hàng kém chất lượng, kinh doanh những mặt hàng bất hợp pháp, làm nguy hại đến người tiêu dùng...những người nào mang trong người hoặc đang rèn luyện đức tính trung thực thì những người đó sẽ dần hoàn thiện nhân cách của họ, sẽ được mọi người mến yêu và tôn trọng. Nếu rèn luyện đức tính trung thực, chúng ta sẽ thành đạt trong cuộc sống, chúng ta sẽ có vốn tri thức để làm giàu một cách chân chính, và nếu chúng ta mắc sai lầm, ta sẽ dễ dàng sửa chữa được nó và hoàn thiện mình thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, làm cho xã hội chúng ta trở nên trong sạch, văn minh và tốt đẹp, khiến đất nước ngày càng đi lên và phát triển đến tầm cao.
Đồng thời, bên cạnh những người biết hoàn thiện bản thân để trở thành công dân tốt vẫn có những người có biểu hiện thiếu trung thực và sai trái. Chúng ta cần phải phê phán và lên án những biểu hiện như vậy. Biểu hiện rã nhất là trong giới học sinh hiện nay, nạn học giả, bằng thật do quay cóp, chép bài của bạn, gian lận trong thi cử đã trở thành một tệ nạn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, đến ý nghĩa của việc dạy và học, gây xôn xao xã hội.
Một biểu hiện thứ hai tương đối rõ ràng là sự thiếu trung thực trong kinh doanh đời sống, đó là việc các báo cáo không trung thực, chất lượng sản phẩm kinh doanh ngày càng kém đi, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng, đặc biệt có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đe dọa tính mạng con người hiện nay như các sản phẩm, các mặt hàng được người dân tiêu dùng hàng ngày, điển hình là các loại sữa có chứa chất độc hại melamine gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, hay ngay các loại nước mắm cũng có chứa chất ure độc tố, hoặc cả các loại rau quả, trái cây hiện nay như rau xanh hay quả tươi đều được người trồng trọt tiêm nhiễm các loại hóa chất vì lợi nhuận của bản thân... Những hành vi trên đều đáng phê phán vì thiếu trung thực, không nghĩ đến sức khỏe của người dân mà chỉ nghĩ đến lợi nhuận của bản thân mình. Chỉ vài biểu hiện trên mà đã nói lên được tính thiếu trung thực đã trở thành căn bệnh phổ biến lây lan nhanh trong mọi người dân. Chính căn bệnh này đã khiến xã hội xuống cấp, đạo đức người dân dần bị hạ thấp, phá bỏ những nét đẹp truyền thống của dân tộc.
Trung thực là thành thực với người và cả với chính mình, luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong từng lời nói và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính.
Tính trung thực giúp con người trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất giúp thuyết phục người khác. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên nhân cách con người. Sống trung thực không phải lúc nào cũng dễ, nó đòi hỏi sự dũng cảm và nghiêm khắc với bản thân. Walter Anderson cho rằng: “Cuộc sống sẽ thay đổi khi chúng ta biết nắm bắt các cơ hội cho mình, nhưng cơ hội đầu tiên và khó khăn nhất lại là việc chúng ta phải thành thật với chính bản thân mình”. Ngay cả khi phải đối diện với thất bại, thua thiệt, ta vẫn cần phải sống trung thực, có thế, ta mới có thể ngẩng cao đầu mà sống và cảm thấy thanh thản trong lòng. Người trung thực trước tiên là trung thực với chính bản thân mình, thành thật nhìn nhận những nhược điểm và sai lầm của mình. Họ nhận thức được là dù họ có công khai nhìn nhận sai lầm của mình hay không thì thường những người xung quanh vẫn biết. Một người chân chính không chỉ trung thực với những gì đang và sẽ diễn ra, mà còn trung thực với những điều mình đã nói, những lỗi lầm của mình đã xảy ra trong quá khứ. Một khi đã rèn luyện cho mình một thái độ sống như vậy, chắc chắn cuộc đời ta sẽ tươi sáng hơn, được mọi người quý trọng hơn trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Trong bất kỳ giai đoạn nào, bất kỳ xã hội nào cũng đều quý trọng những người sống trung thực. Đó là một đức tính cần có của một con người chân chính.
Báo Tuổi Trẻ ngày 17/9/14 đưa tin, theo báo cáo của Thanh Tra chính phủ, trong gần một triệu người kê khai tài sản năm 2013, chỉ một người kê khai không trung thực. Quả là một con số tuyệt đẹp về lòng trung thực hôm nay? Bài báo đặt câu hỏi. Cũng năm 2013, khi điều tra về nợ xấu của các ngân hàng, người ta phát giác ra sự tiêu cực của những cán bộ được phân công định giá tài sản của những người đi vay ngân hàng. Những người làm công tác giám định gian dối này đã kê khống giá trị tài sản thế chấp để người đi vay được vay nợ với số tiền lớn, rồi chia lại theo một tỷ lệ nào đó cho người định giá. Ví dụ miếng đất thế chấp trị giá thực chỉ 500 triệu đồng thì người định giá kê thành 3 tỷ đồng, để số tiền vay được duyệt là 1,8 tỷ. Người cho vay và cán bộ định giá chia nhau số tiền vay được. Khi đổ bể, người vay không có đủ tiền trả, ngân hàng sẽ thu nợ bằng tài sản thế chấp nhưng nó không đáng gì so với số tiền đã vay không trả được. Nợ xấu không đòi được là như vậy. Đó chính là hậu quả của sự thiếu trung thực.
Chuyện vui nhà đạo hôm nay còn kể: Một cặp vợ chồng kia sống không lương thiện, chỉ ham kiếm tiền bằng mọi cách có thể. Một hôm, người chồng nghe nói về việc có người được ơn nhờ đi khấn đền Thánh Giuse. Anh ta cũng nghe đồn Ông Thánh Giuse tại đền rất thiêng, xin gì được nấy. Nhân ngày thứ tư đầu tháng, anh ta nói vợ mua chục bông huệ, cả hai áo quần tề chỉnh lên đền xin khấn. Đặt bó huệ trước chân tượng đài Thánh Cả, người chồng lớn tiếng kêu cầu: ”Xin Ông Thánh Giuse thương giúp cho con trúng số chiều nay. Con có mua một cặp 5 tấm, nếu con trúng độc đắc, con xin dâng vào đền Thánh 3 tấm”. Bà vợ nghe thấy vậy bèn bấu tay chồng nói nhỏ: “Sao mà nhiều thế, ông Thánh chỉ cần 2 tấm là Ngài vui rồi“. Chồng nạt lại: ”Bà thì biết cái gì, tôi đã hứa  dâng là dâng cho đáng, đừng có mà bủn xỉn, Thánh không nhận lời đâu!”. Về đến nhà, thấy vợ không vui, hắn tiết lộ: ”Tôi nói là nói vậy với ông Thánh thôi. Đây nè! trong ví tôi còn cặp này 10 tấm nữa nè. Chiều nay tha hồ mà hốt…”.
Con người dễ dàng chóa mắt trước tiền của, dám lừa nhau: lừa chồng lừa vợ, lừa bố mẹ, lừa thầy cô bạn bè, lừa trên dối dưới, lừa mọi người và lừa cả Thánh, cả Chúa. Tiền bạc có thể mua chuộc con người với nhau, nhưng không thể mua chuộc nước Trời, mua chuộc chân lý. Đức Kitô không khuyên ta làm điều gian dối, lấy tiền bạc mà mua nước trời như có người nghĩ theo nghĩa đen: Cứ làm ăn gian dối, lừa lọc, rồi lấy phần nào đó trong số tiền bất chính thu được để làm từ thiện, bác ái, chắc Chúa sẽ ban ơn thêm cho: mục đích không biện minh cho phương tiện.
Người ta thường nói “thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương”. Vì thế, “lương tâm không bằng lương tháng”. Đó là một thực tế buồn, rất có thể là một phần do suy thoái đạo đức, ảnh hưởng nhiều thứ – dù ai cũng “nhân chi sơ tính bản thiện”!
Người ta chưa xác định câu: “Xin hãy dạy con tôi chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận trong thi cử” có phải của cố tổng thống Hoa kỳ Abraham Lincoln hay không. Nhưng dù thế nào thì câu đó vẫn tuyệt vời, dù đó là của ai. Người Việt cũng có câu: “Thà chết vinh hơn sống nhục”. Xã hội có nhiều loại người, nhưng tóm gọn 2 loại chính: Trung thực và lọc lừa, dĩ nhiên mỗi loại có mức độ rất khác nhau.
Sống trung thực sẽ “mất” sự gần gũi, thân thiện, thiếu thoải mái… nhưng “được” những cái vô giá: Sự khâm phục, nể trọng, quý mến,… Dám sống trung thực là điều không dễ. Những người sống trung thực thường cảm thấy “cô đơn”, lạc lõng giữa xã hội phức tạp. Người ta có xu hướng “an phận”, ai sao mình vậy, không dám đấu tranh vì Chân-Thiện-Mỹ, chỉ cần hai chữ “bình an”. Xưa nay, trong mọi lĩnh vực: Xã hội, tôn giáo, chính trị, giáo dục,… những người dám thể hiện tính trung thực, nói thẳng nói thật, không xu nịnh là “hàng hiếm”, “hàng độc”. Người dám trung thực cũng phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều, vì “nói thì dễ mà làm thì khó”, rất cần phải có lòng dũng cảm, dám sống “trong” dù đời “đục”.
 Trong cuộc sống, đối với bất kỳ lĩnh vực nào cũng vậy. Dám làm thì phải dám chịu. Không gì hơn là “cứ là chính mình”. Đó là một dạng trung thực. Người ta có thể che mắt người khác nhưng không thể giấu giếm được chính mình. Sống trung thực, MẤT thì có MẤT, mà ĐƯỢC thì vẫn ĐƯỢC. Theo tôi, cái ĐƯỢC nhiều nhất là tâm hồn mình thanh thản, dù người khác có thể không muốn “gần gũi” mình, chẳng qua là họ ngại và tự thẹn thôi.
Lịch sử thế giới đã và đang cho chúng ta thấy những tấm gương trung thực, dù người đó có thể bị người khác “xa lánh”, nhưng thời gian sẽ cho người ta biết câu trả lời chính xác nhất.
Kinh thánh cho biết: “Thiên Chúa duy nhất và chân thật” (Ga 17,3). Thánh Phaolô nhắc lại: “Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật” (Rm 3,4), và giãi bày: “Chúng tôi không phải như nhiều người, những kẻ xuyên tạc Lời Chúa, mà với tư cách là những người trung thực, được Thiên Chúa sai đi, chúng tôi lên tiếng trước mặt Người, trong Đức Kitô” (2 Cr 2,17).
Không trung thực có liên quan điều răn thứ 8. Sống trung thực là một cách tuân giữ điều răn Chúa dạy, cũng là cách thể hiện đức tin, là làm chứng về Thiên Chúa chân thật.
Chúa Giêsu đã xác định: “Có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).
Xin cho mỗi người chúng ta hãy sống theo Thầy Giêsu, hãy rao giảng cho mọi người biết Giêsu: sống trung thực theo Đấng Là Sự Thật, dù chấp nhận “khác người”, thiệt thòi, hiểu lầm và cả cái chết, cho xã hội và giáo hội ngày càng bình an và hạnh phúc hơn. Amen.


Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 2014
Kính thưa Quý cụ ông, cụ bà, quý bác bá, anh chị tôn giáo bạn cùng toàn thể cộng đoàn dân Chúa đang hiện diện trong thánh lễ hôm nay.
Trong “Một gợi ý Mục vụ TÂN PHÚC-ÂM-HÓA ĐỂ THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN – PHÚC-ÂM-HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH”, Ủy ban Mục vụ Gia đình (Hội Đồng Giám Mục Việt Nam) viết: “Qua Thư Chung của HĐGMVN ngày 10.10.2013, các Đức Giám mục kêu gọi Cộng đoàn Dân Chúa tại Việt Nam tích cực tham gia vào công cuộc Tân Phúc-Âm-Hóa trong kế hoạch ba năm 2014-2016. Đặc biệt, “trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hãy cùng nhau Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình và thúc đẩy gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ Loan báo Tin mừng. Hội Thánh được gọi là gia đình của Thiên Chúa và mỗi gia đình Ki-tô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đình, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đình”. 
Truyền giáo là gì?
Theo Bách Khoa Từ điển thì Truyền giáo là “truyền bá một tôn giáo cho những người khác, trong nước hay ngoài nước. Truyền giáo là công việc của mọi tôn giáo, nhưng có tổ chức, có quy mô nhất là việc Truyền giáo của Đạo Ki-tô.” Sở dĩ Ki-tô giáo được coi là “truyền giáo có tổ chức, có quy mô” chặt chẽ, vì chính Đấng Sáng Lập Hội Thánh truyền dạy: "Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 19-20). Lệnh truyền đó bắt nguồn từ tình yêu vô hạn của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, với mục đích tối hậu là làm cho loài người được cứu rỗi, nhờ hiệp thông với Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. 
Chúng ta thường xuyên nghe nói đến hai chữ “Truyền Giáo”. Nguyên gốc của chữ này là một danh từ tiếng La Tinh “Missio”, động từ là “Mittere”. Từ này có nhiều nghĩa. Và một trong những nghĩa thường được hiểu là: gửi đi, sai phái đi, để làm một công tác quan trọng.
 Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian, để cứu độ con người. Chính Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ ra đi, lên đường, để cộng tác với Ngài trong sứ mạng cao cả này. Như vậy, truyền giáo mang ba đặc tính của sự “ra đi” hay theo Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2014 của ĐGH Phanxi cô nói như sau: “Hội Thánh được sinh ra để “đi ra”.
 Thứ nhất: Truyền giáo là “đi ra” khỏi con người của mình: Chúng ta ai cũng có khuynh hướng ích kỷ, khép kín và coi mình là trung tâm. Ta thường lấy mình làm tiêu chuẩn để phán đoán người khác. Ai không có lối suy nghĩ giống ta, thì bị phê bình chỉ trích.
 “Ra đi” khỏi cái tôi của mình. Nghĩa là chấp nhận người khác cùng với ý kiến lập trường của họ, là quảng đại bao dung khi bị xúc phạm. Truyền giáo, chính là thoát ra khỏi cái vỏ bọc ích kỷ, để hòa đồng với anh chị em mình, tôn trọng sự khác biệt của nhau; và sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì ích chung.
 Các môn đệ đầu tiên, khi nghe Chúa Giêsu kêu gọi, đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Các ông từ bỏ những dự tính nghề nghiệp, từ bỏ môi trường gia đình, làng xóm. Các ông không hề băn khoăn lo lắng cho ngày mai. Nhưng sẵn sàng bước theo Chúa, vì các ông tin rằng: Theo Chúa, thì sẽ không phải thiệt thòi hay thất vọng.
Thứ hai: Truyền giáo là “đi ra” khỏi những định kiến: Cuộc sống này được thêu dệt bởi những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ. Bước ra khỏi những định kiến, để đón nhận nhau trong tình huynh đệ hài hòa, không phân biệt lập trường chính trị, tôn giáo, hay quan điểm xã hội.
 Kinh nghiệm cho thấy:
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo mà sống gò bó trong quan niệm khắt khe, thì không thể truyền giáo có hiệu quả.
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo mà dửng dưng với những giá trị trần thế, hoặc khép mình trước những biến cố vui buồn của cuộc sống chung quanh, thì sẽ là một con người, một gia đình, một họ Đạo ảm đạm u sầu, thay vì hân hoan hy vọng.
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo không dấn thân phục vụ hạnh phúc con người, thì sớm muộn gì, cũng sẽ trở nên một thứ ao tù, không lối thoát và thiếu sinh khí.
 Thứ ba: Truyền giáo là “ra đi”, để kể lại cuộc đời của Chúa Giêsu cho mọi người. Câu chuyện về Chúa Giêsu đã được kể từ 2014 năm nay, mà vẫn không lỗi thời. Lời giảng của Chúa Giêsu đã được loan báo từ hơn 20 thế kỷ, mà vẫn không mất tính thời sự.
Ngày nay, cuộc đời của Chúa Giêsu đã và đang được kể lại một cách phong phú, không chỉ qua sách vở, mà còn qua cuộc đời của các tín hữu. 
Như thế, xuyên qua con người của ta, người khác có thể đọc được cuộc đời của Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã cảm thông với người đau khổ, đã chữa lành người bệnh tật, đã phục sinh người chết, đã chúc lành và chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn trong ngày cưới.
 Như vậy, truyền giáo chính là sống như Chúa Giêsu đã sống, yêu như Chúa Giêsu đã yêu. Truyền giáo là có trái tim như trái tim của Chúa, có đôi mắt như đôi mắt của Chúa. Trái tim để yêu và đôi mắt để trao gửi tình thân.
Tại sao chúng ta phải truyền giáo? Ngày nay vẫn còn rất nhiều người không nhận biết Chúa Giêsu Kitô.
Trong quá khứ, có lẽ đã có người trả lời rằng: bởi vì chỉ có đạo Công giáo mới là đạo thật, còn các đạo khác dạy điều dối trá sai lầm, thờ lạy bụt thần ma quỷ! Nhưng thực tế, câu trả lời ấy không còn đứng vững khi mà hiện nay người ta nhận thấy rằng không phải các tôn giáo đều dạy điều quấy quá. Không đúng !
Thông điệp “Sứ mạng Đấng Cứu Thế” số 11 đã trình bày lý do phải Truyền giáo một cách khác. Ngoài mệnh lệnh của Đức Kitô sai các môn đệ đi khắp thế giới giảng đạo, Thánh Gioan Phaolô II đặt nền tảng của việc truyền giáo trên quyền lợi cao quý nhất của con người, đó là quyền của con người được biết sự thật. Hội thánh cần phải tôn trọng quyền đó, nghĩa là phải nói cho con người biết sự thật về phẩm giá cao quý của mình. Phẩm giá ấy hệ tại việc Thiên Chúa yêu thương con người, mời gọi con người thông dự vào sự sống của Ngài, nhờ hồng ân cứu rỗi qua Đức Kitô. Hoạt động truyền giáo, nhằm phục vụ chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, đồng thời cũng nhằm phục vụ con người. Truyền giáo là chúng ta muốn thông đạt cho tha nhân hồng ân đức tin quý báu mà chúng ta đã lãnh nhận, và hồng ân ấy liên hệ tới hạnh phúc của mọi người.
Sắc lệnh Truyền giáo cũng của Công đồng Vaticanô II cũng đề ra 3 lí do :
1/ Chúa Giêsu trước khi về trời đã dạy: " Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân: rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con" (Mt 28,19-20). Nên Hội Thánh phải vâng lời Đức Kitô mà thi hành sứ mạng truyền giáo cho muôn dân.
2/ Chúa dạy: "Hãy đi khắp trần gian rao giảng Phúc Âm cho hết mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi: còn ai không tin sẽ bị luận phạt" (Mc 16,15). Vì Giáo hội gọi là Công giáo nên phải truyền giáo cho mọi người, ở mọi nơi trên khắp thế giới do những đòi hỏi căn bản của Công giáo tính.
3/ Với lời mời gọi "Chúng con là muối đất và ánh sáng trần gian" (Mt 5,13-14), nên theo Công đồng Vaticanô 2, "Trong tình trạng thế giới hiện nay đặt nhân loại trong một hoàn cảnh mới, vì thế Giáo Hội, càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài, hầu mọi sự được tái lập trong Chúa Kitô, và nơi Ngài mọi người họp thành một gia đình và một Dân Chúa duy nhất" (Sắc lệnh Truyền giáo số 4).
Truyền giáo là bản chất và là đời sống cuả Giáo Hội. Vì thế, Giáo hội luôn tìm kiếm và khám phá không ngừng những phương thức truyền giáo mới phù hợp với con người mới và thời đại mới, qua những đóng góp không mệt mỏi của các nhà truyền giáo và các nhà thần học. Họ là những người luôn sáng kiến những ý tưởng và cung cấp cho Giáo hội những phương cách mới dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội và soi sáng của Chúa Thánh Thần.
Cảm nghiệm sâu xa về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và ý thức về lệnh truyền giáo của Đức Giêsu Phục sinh, mỗi người cũng phải luôn canh cánh trong lòng như lời thánh Phaolô : "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1C 9,16). Và thánh Phaolô còn căn dặn mọi người : "Phải rao giảng Lời, lúc thuận tiện cũng như lúc khó khăn” (2Tm 4,1-2). Như thế, lời của Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ xưa : "Ra khơi mà thả lưới đánh cá" (Lc 5,4), vẫn vang vọng nơi tâm hồn mỗi người và như lời Thánh Gioan Phaolô II viết : "… Với tư cách là những tông đồ đích thực, trong những giờ khắc âu lo, ta hãy hướng nhìn về Chúa để thưa với Ngài, chúng con sẽ tiếp tục thả lưới, cho dù phải hy sinh và bị hiểu lầm, chúng con phải công bố sự thật đầy đủ và chính thức về con người của Ngài, về Hội Thánh mà Ngài đã thiết lập, về con người và thế giới đã được cứu chuộc bằng máu Ngài, chứ không theo chủ trương giảm trừ giản lược hay diễn tả một cách mơ hồ, dị nghĩa”.
Truyền giáo bằng cách nào?
Truyền giáo không phải là kiểu mình thường gặp trong cuộc sống: xin – cho, hoặc xót thương thì bố thí. Không! Truyền giáo ở đây là loan báo Đức Kitô như một Tin Vui Tuyệt Vời cho thế giới. Tin Vui Tuyệt Vời này đã đi vào đời mình, biến đổi mình. Một khi đã gặp và hiểu Tin Vui Giêsu ấy, đời mình không thể thiếu vắng Người được nữa. Vậy thì ta loan truyền Tin Vui Giêsu bằng những nghĩa cử rất thật, rất gần ngay trong ngày cuộc sống thường nhật. Ví dụ: Ta chỉ cần:
 -  Trao một nụ cười thân thiện để phá vỡ khoảng cách giữa người với người.
 -  Trao một lời an ủi khi ai đó sầu đau, mất mát, tuyệt vọng.
 -  Gửi một tin nhắn, gọi một cú điện thoại hỏi thăm.
 -  Dắt tay một cụ già hay em nhỏ qua đường.
 -  Mỉm cười với sự trân trọng khi mua một bó rau của một người nghèo.
 -  Cảm ơn người ăn xin trước cửa nhà mình.
 -  Trao lời ngỏ muốn giúp một tay đối với đồng nghiệp.
 -  Trân trọng và tế nhị xin được giúp đỡ với lời cảm ơn chân thành.
 -  Quyết tâm từ chối cộng tác, vào hùa với sự giả dối trong học đường, trong công sở, hay bất cứ nơi nào mình sống.
 -  Nhặt một vài cọng rác, vỏ kẹo, bao ni-lông bỏ vào thùng rác để giữ đẹp cho môi trường công cộng.
 -  Đeo một thánh giá trên mình như một dấu chỉ niềm tin vui.
 -  Nói thật, sống thật, làm chứng cho sự thật, tôn trọng sự công bằng dù chấp nhận thiệt thòi, hiểu lầm.
 -  Bênh vực, bảo vệ, đứng về phía kẻ bị oan ức, yếu thế, nghèo hèn.
 -  Lắng nghe trong tôn trọng đối với khác biệt của tha nhân, nhất là về niềm tin tôn giáo của họ.
 -  Chấp nhận một lối sống khác biệt để sống theo lời dạy của Chúa, của Giáo hội và của nề nếp gia phong gia đình như là “bơi ngược dòng” giữa một xã hội “yêu cuongf sống vội” và “sống nháp thử” như ngày hôm nay.
 - Trả lại của rơi cho người bị mất.
- Sống trọn đạo hiếu với Trời, với các đấng bậc sinh thành và với những người có công với mình.
 Còn nhiều và rất nhiều nữa những cách thức truyền giáo sống động và hoàn toàn khả thi, chúng ta hãy thêm vào nhé!  
Nguyện chúc tất cả quý OOBACE, đặc biệt các Quý vị tôn giáo bạn hiện diện nơi đây được Thiên Chúa chúc lành cho Quý Vị và gia đình luôn được bình an và tràn đầy niềm vui. Amen.



Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

TIỆC CƯỚI VÀ NƯỚC TRỜI


CHÚA NHẬT XXVIII A: TIỆC CƯỚI VÀ NƯỚC TRỜI (Mt 22,1-14)

Trong Kinh Thánh Chúa Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh để nói về nước Trời. Chỉ riêng
trong sách Tin Mừng của thánh Mat-thêu cũng đã có đến cả chục hình ảnh khác nhau khi nói về nước Trời.

Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng, nước Trời giống như hạt cải, nước Trời giống như nắm men, nước Trời giống như kho báu chôn dấu trong ruộng, nước Trời giống như chiếc lưới thả xuống biển, nước Trời giống như ông vua kia đòi đầy tớ thanh toán sổ sách, nước Trời giống như chuyện người chủ thuê người làm vườn nho, nước Trời giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn đón chàng rể và trong bài Tin Mừng Chúa nhật 28 thường niên năm A, nước Trời ví như ông vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử.

Có lẽ chúng ta bực bội về cái thái độ vô lý của ông vua trong câu chuyện. Ông mở tiệc cưới cho hoàng tử. Đến ngày cưới không thấy ai đến, ông sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời nhưng không ai chịu đến. Vậy là ông sai đầy tớ ra các ngả đường gặp bất cứ ai cũng mời vào dự tiệc. Nhờ vậy phòng cưới đã chật ních người dự tiệc. Khi đó ông đi quan sát và thấy có một người không mặc y phục lễ cưới ông liền nổi giận truyền cho đầy tớ trói tay chân người đó lại và sai ném vào nơi tối tăm. Thật là điều vô lý và bất công khi ông nổi giận về chuyện y phục. Ông cũng thừa biết những người gặp được ngoài đường thì gồm đủ thành phần: thượng vàng hạ cám, giàu nghèo, sang hèn thậm chí còn có cả kẻ khố rách áo ôm và ngay cả người đi ăn xin nữa. Tất cả đều bất ngờ được dồn vào phòng tiệc thì họ kiếm ở đâu cho ra y phục lễ cưới?

Nhưng chúng ta thấy chính sự bực bội của mình mới là điều vô lý. Bởi vì đây chỉ là một câu chuyện dụ ngôn chứ làm gì có một đám cưới như thế trong thực tế. Tiệc cưới ở đây là nước Trời được hiểu theo nghĩa bóng vậy thì y phục lễ cưới cũng phải hiểu theo nghĩa bóng chứ đâu có thể hiểu theo nghĩa đen được. Chuyện vào nước Trời mới là điểm cốt lõi của bài Tin Mừng này chứ không phải là chuyện ông vua làm tiệc cưới cho con hay là chuyện chiếc y phục lễ cưới.

Muốn dự tiệc cưới phải có y phục lễ cưới có nghĩa là muốn được vào nước Trời thì phải có đủ những điều kiện đòi hỏi, cần phải đạt được tiêu chuẩn nào đó. Điều kiện, tiêu chuẩn phải có là gì? Chắc chắn không phải hễ là người Kitô hữu, hễ là người đã rửa tội thì đương nhiên được vào nước Trời mà phải xứng đáng với tư cách là công dân của nước Trời. “Vì những kẻ được gọi thì nhiều còn những kẻ được chọn thì ít”. Hãy thử xem ai sẽ được vào nước Trời dựa theo một số chuẩn mực được nói đến trong Kinh Thánh.

Có lần Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào nước Trời”. Trẻ nhỏ vốn sống đơn sơ, chân thật, ngây thơ vô tội. Trẻ nhỏ không biết điêu ngoa, tỵ hiềm, gian tham. Muốn nên như trẻ nhỏ thì phải đoạn tuyệt với những gì nham hiểm, ác độc, kiêu căng, tham lam, gian dối, lọc lừa …để sống trung tín với Chúa và sống ngay thẳng, chính trực, nhân hậu, khiêm nhường, khoan dung. . với mọi người. Đó chính là hành trang cần phải có cho người muốn được vào nước Trời.

Một lần khác Chúa Giêsu lại nói “ Người giầu có khó vào nước Trời”. Chắc chắn Chúa Giêsu không kỳ thị người giầu có hay vơ đũa cả nắm mà Chúa Giêsu chỉ muốn nói đến những người giầu có nhưng keo kiệt, giầu có nhưng gian tham bất chính. 

Con người khi sinh ra đều chỉ với hai bàn tay trắng. Của cải ở đời là do Chúa ban cho lẽ ra người dư thừa phải biết chia sớt cho những người thiếu thốn nhưng người keo kiệt chỉ bo bo giữ cho mình không hề quan tâm đến người khác, không hề chia sớt cho dù một phần rất nhỏ cho những người cùng khổ. Họ thà là ăn chơi phung phí hoặc tiêu xài vào những việc không cần thiết nhưng lại chi ly, bủn xỉn với công việc từ thiện. Như vậy là lỗi đức bác ái. Người gian tham có một muốn mười, có mười lại muốn một trăm, lòng tham vô đáy. Họ không từ ngay cả những phương cách bất lương để vơ vét của cải cho mình cho dù đã làm thiệt hại cho người khác. Như vậy là lỗi đức công bằng. Những người giàu có nhưng keo kiệt và gian tham coi tiền của trên hết là tự họ xa cách nước Trời chứ không phải vì lý do giầu có mà họ khó vào nước Trời.

Không có lòng vị tha đối với tha nhân cũng là bỏ mất cơ hội để được vào nước Trời. Bởi vì như Chúa Giêsu đã nói khi đối xử với tha nhân làm sao thì cũng như đối xử với chính Chúa vậy. Sẽ khó vào nước Trời nếu ngày phải đối diện với Chúa bị Chúa trách mắng rằng “Xưa Ta đói các ngươi không cho ăn; Ta khát các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù các ngươi chẳng thăm viếng” (Mt 25 42-43). Những người bị trách mắng như thế liệu có được vào nước Trời không?

Một nguy cơ khác cũng làm trở ngại cho việc vào nước Trời là không trung thành với lề luật của Chúa. Có lần Chúa Giêsu đã cảnh cáo rằng “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý nuốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21). Thi hành ý muốn của Đấng ngự trên trời không thể không bao gồm việc tuân giữ các lề luật của Chúa cũng như tuân giữ lề luật của Giáo hội. Thế nhưng ngày nay xem ra người ta không mấy chú trọng mà càng ngày càng tỏ ra thờ ơ đối với vấn đề này.


Tất cả người Kitô hữu đều được mời gọi tham dự tiệc cưới tức là nước Trời. Trong cuộc sống nơi trần thế chính là thời gian để mỗi người tín hữu chăm chút cho chiếc “y phục lễ cưới”. Nhưng thật đáng tiếc là nhiều khi chúng ta đã qúa thờ ơ không chịu chăm lo hay tệ hại hơn còn muốn cởi bỏ chiếc “y phục” cần thiết để được vào nước Trời. Sẽ là đại họa cho chúng ta nếu chúng ta không có sẵn “y phục lễ cưới” vào ngày giờ Chúa gọi. 

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Lễ Mẹ Mân Côi: Nhớ Lời Mẹ Dặn

Lễ Mẹ Mân Côi: Nhớ Lời Mẹ Dặn


Hồi nhỏ tôi rất thích những lời ru của mẹ. Lời ru êm đềm đưa tôi vào giấc ngủ. Lớn lên tôi lại càng thích thú lời ru ấy, vì nó chất chứa bao lời dạy của mẹ gửi cho con qua lời ru à ơi.

Vâng, có lẽ mỗi người chúng ta đều có những ấn tượng về những lời dạy của mẹ. Lời dạy của mẹ không chỉ dạy con lúc tuổi thơ mà có khi theo con đi suốt cuộc đời. Lời mẹ sẽ mãi mãi là kim chỉ nam cho con bước vào đời.

Ngày xưa Phùng Quán khi còn nhỏ đã từng nói dối, thế mà lời mẹ dạy đã theo ông suốt cuộc đời. Đến nỗi khi đã trưởng thành ông vẫn không quên “Lời mẹ dặn”:

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi/
Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/
Ngày ấy tôi mới lên năm/
Có lần tôi nói dối mẹ/
Hôm sau tưởng phải ăn đòn /
                                         Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn
                                         Ôm tôi hôn lên mái tóc…
                                         Con ơi...trước khi nhắm mắt
                                         Cha con dặn con suốt đời
                                         Phải làm một người chân thật

Mới lên năm mà Phùng Quán vẫn nhớ như in lời mẹ dặn. Lời mẹ dặn từ thuở nhỏ đã trở thành kim chỉ nam cho đời sống của mình, đến nỗi có người hỏi Phùng Quán: ” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? Phùng Quán trở lời :– Bé yêu những người chân thật ».

Hóa ra làm người phải sống chân thật và còn phải yêu người chân thật. Vì họ là người không dối lòng, có sao nói vậy, chẳng quanh co giả dối :

                                           Con ơi một người chân thật
                                           Thấy vui muốn cười cứ cười
                                           Thấy buồn muốn khóc là khóc

Chân lý tưởng như đơn giản nhưng để sống được nó thật là khó.  Vì nhiều người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá ! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá !

Thế nên, làm người chân thật thì phải :

                                                 Yêu ai cứ bảo là yêu
                                                 Ghét ai cứ bảo là ghét.

   Và cho dù có được bổng lộc hay hiểm nguy cũng không được sống dối với lòng mình.

                                                  Dù ai ngon ngọt nuông chiều
                                                  Cũng không nói yêu thành ghét
                                                  Dù ai cầm dao doạ giết
                                                  Cũng không nói ghét thành yêu

 Và rồi lời mẹ dặn vẫn ghi tạc trong ông :

                                                   Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
                                                   Đứa bé mồ côi thành nhà văn
                                                   Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
                                                   Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

Cuộc đời người tín hữu cũng có một người mẹ. Một người mẹ luôn dặn chúng ta sống sao cho nên người. Lời Mẹ dặn thật đơn sơ : « Người bảo gì, các con cứ làm như vậy ». Làm theo Lời Chúa là để cho ý Chúa thực hiện trong cuộc đời mình. Làm theo lời Chúa là đi ngược lại với lời dẫn dụ ngọt ngào của ma quỷ. Làm theo lời Chúa là tránh xa mưu chước ma quỷ.

Cách thức để có thể thực hiện lời Chúa chính là siêng năng lần hạt Mân Côi. Đây còn là vũ khí mà Mẹ dặn chúng ta mang theo bên mình để có thể chiến thắng cám dỗ. Đây là vũ khí đã đẩy lùi sự dữ để mang lại an bình cho Giáo hội thời Thập Tự Chinh. Đây là vũ khí đã mang lại hòa bình cho thế giới trong chiến tranh lần thứ nhất của thế kỷ 20. Đây là vũ khí đã lập lại trật tự cho thế giới. Đây cũng là vũ khí đã cứu vớt biết bao linh hồn nhờ trung thành sống theo lời Mẹ dạy,

Hôm nay ngày lễ Mẹ Mân Côi, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy siêng năng lần hạt Mân Côi theo lời Mẹ dặn. Vì kinh Mân Côi sẽ  mang đến cho chúng ta một kho tàng ân phúc của Chúa. Kinh Mân Côi chính là chìa khóa vạn năng để chúng ta mở kho ân sủng vô biên của Chúa.

Theo Chân Phước Alan cho rằng:'Sau Hy Tế trong Thánh Lễ, một Hy Tế cao trọng nhất, cùng những kỷ niệm sống động của những đau khổ của Chúa Kytô, thì không còn loại sùng kính nào tốt hơn, đem ích lợi nhiều cho các Linh Hồn bằng Kinh Mân Côi, một kinh cũng nhắc lại những kỷ niệm và diễn lại cuộc đời, sự đau khổ của Chúa Giesu Kytô'.

Đức Pi-ô X : « Nếu muốn gia đình được yên lành hạnh phúc thì các con hãy lần hạt Mân Côi mỗi buổi tối trong gia đình các con ».

Đức Gioan XXIII : « Kinh Mân Côi phải trở nên như hơi thở của mọi tâm hồn, đồng thời cũng là kinh riêng của các gia đình Công Giáo ».

Mỗi người chúng ta đều ao ước hòa bình. Mỗi người chúng ta đều mong cho gia đình chúng ta được thuận hòa, cho cuộc đời bình yên. Thiết nghĩ phương thế để chúng ta nhận lãnh ơn Chúa không gì hữu hiệu bằng lời kinh Mân Côi.

Xin cho chúng ta biết siêng năng lần hạt Mân Côi và nhờ Kinh Mân Côi chúng ta được soi sáng sống theo lời Mẹ dặn chúng ta : « Người bảo gì anh em hãy làm theo như vậy. Amen.

LỜI KINH GẦN GŨI CUỘC SỐNG

Phụng vụ bước vào tháng Mân côi. Suốt tháng này, lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi. Mọi tín hữu được cùng với Đức Mẹ trên từng cây số cuộc đời Chúa Giêsu và theo phong cách của Đức Mẹ là “lưu giữ và suy niệm trong lòng” qua từng lời kinh chuỗi hạt Mân côi. Tràng hạt Mân côi là một hành trang và là phương tiện “bỏ túi”, “đeo tay” “đeo cổ” gọn nhẹ. Lời kinh kỳ diệu này giúp thánh hóa bản thân, gia đình và xã hội. Kinh Mân côi không khác gì điện thoại di động hòa đời người vào mạng lưới sự sống thiêng liêng.

Chuỗi Mân Côi trong tiếng Latinh là “rosarium” nghĩa là “vườn hoa hồng”. Tháng 10, lần hạt Mân côi, đoàn con cái hiếu thảo dâng biết bao hoa hồng lên Đức Mẹ. Bằng chuỗi Mân côi, Giáo hội trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp tiến dâng Mẹ hiền.

1.    Kinh Mân côi đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng

Chuỗi Mân côi thật cao quí, ai biết siêng năng lần hạt sẽ nhận được hiệu quả phi thường.

Vào thế kỷ 13, bè rối Albigeois nổi lên ở miền Nam nước Pháp. Với Chuỗi Mân côi do Đức Mẹ truyền dạy, chỉ trong một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã cảm hóa được 150.000 người theo bè rối trở về cùng Giáo Hội.

Thế kỷ 16, ảnh hưởng của Tin lành mạnh mẽ và đe dọa toàn cõi Âu Châu. Dân thành Luxembourg vẫn trung thành với Giáo Hội. Hôm ấy toàn thể dân phố được mời tới nhà thờ để nghe giảng thuyết. Khi vị mục sư bước lên tòa giảng, một người giáo dân xướng kinh và tất cả nhà thờ đều lần hạt to tiếng cho đến lúc vị mục sư phải bước xuống tòa giảng và ra khỏi nhà thờ. Nhờ kinh Mân côi, dân thành Luxembourg giữ vững niềm tin và trung thành với Giáo Hội.

Năm 1511, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mân côi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mân côi. Khi ấy quân Hồi xâm lăng Âu Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân Công giáo. Cùng với việc triệu tập đạo quân thánh giá từ hai nước Ý và Tây Ban Nha, Đức Giáo hoàng Piô V kêu gọi mọi người siêng năng lần chuỗi Mân côi. Cuộc chiến quá chênh lệch đã diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới thô sơ, người Công giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu. Từ Roma, Đức Giáo hoàng nghe tin chiến thắng và nói với các vị trong giáo triều hãy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 07 tháng 10. Đức Giáo hoàng đã thiết lập lễ Mân côi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ cuộc chiến thắng lịch sử này.

Trước năm 1917, Bồ Đào Nha ở vào một tình trạng suy thoái một cách trầm trọng về phương diện tôn giáo. Gần hai thế kỷ, óc bè phái đã gây nên những chia rẽ và những cuộc nội chiến. Giáo Hội bị bách hại bởi những kẻ theo nhóm tam điểm. Nhà thờ bị phá hủy, các linh mục và tu sĩ bị bắt bớ, khắp nơi người ta tổ chức những đoàn hội chống lại Giáo Hội. Thế nhưng kể từ năm 1917, năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha đã đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Người ta tổ chức những đoàn hội chuyên lo lần hạt Mân côi để xin Mẹ chấm dứt những xáo trộn và ban mọi ơn lành xuống cho đất nước. Bồ Đào Nha đã xứng đáng với tước hiệu quê hương của kinh Mân côi.

Lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mân côi. Chẳng hạn Kinh Mân côi đã mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12 tháng 9 năm1683, hay đã chấm dứt bệnh dịch tại Milan... Chuỗi Mân côi vẫn còn là một phương thế cứu rỗi hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mân côi.

Tạp chí Reader’s Digest số ra tháng 4 năm 1991 có kể lại cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Mẹ Têrêxa Calcutta và một thương gia người Mỹ như sau:
Trên chuyến máy bay từ Chritiamy về Thanasity, thương gia trẻ tên là Jim Caiso ngồi kề bên Mẹ Têrêsa và một nữ tu khác. Jim Caiso nhận ra ngay khuôn mặt của người nữ tu thường được báo chí nhắc đến. Khi những người khách cuối cùng ngồi vào yên vị trên máy bay thì Jim thấy hai người nữ tu từ từ rút chuỗi ra khỏi áo và lâm râm cầu kinh. Tuy không phải là một người công giáo sùng đạo nhưng Jim cũng cảm thấy bị lôi cuốn bởi sự cầu kinh của hai người nữ tu. Khi máy bay đã lên cao, Mẹ Têrêsa quay nhìn người thanh niên và hỏi: - Anh có thường lần chuỗi không?

Anh trả lời:- Thưa không.

Anh vừa trả lời thì Mẹ cầm tay anh, trao cho anh tràng chuỗi rồi mỉm cười nói: - Vậy thì hãy bắt đầu lần chuỗi đi.

Ra khỏi phi trường Jim vẫn còn cầm trên tay tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta. Anh kể lại cho vợ nghe cuộc gặp gỡ với Mẹ Têrêsa và kết luận như sau: “Anh có cảm tưởng như mình đã gặp một nữ tu đích thực của Chúa”.

Chín tháng sau, Jim và vợ anh đến thăm một người đàn bà đã từng là bạn của hai người từ nhiều năm qua. Người đàn bà này bác sĩ cho biết bà đã bị ung thư tử cung. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáng lo ngại. Nghe thế, Jim đưa tay vào túi quần, rút ra tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta và trao cho người bạn. Anh nói: - Chị cầm lấy cái này, nó sẽ giúp chị.Mặc dù không phải là người Công giáo, người bạn này vẫn mở rộng bàn tay ra và trân trọng đón nhận món quà quí giá ấy. Một năm sau gặp lại vợ chồng Jim, người đàn bà vui vẻ cho biết bà đã mang trong mình tràng chuỗi trong suốt năm qua và giờ đây trao lại cho Jim để may ra có thể còn giúp đỡ cho người khác. Trong thời gian đó, người chị vợ của Jim đang bị khủng hoảng sau cuộc ly dị, bà cũng muốn được mượn tràng chuỗi của Jim. Sau này bà kể lại rằng: - Hằng đêm, tôi đeo chuỗi vào người. Tôi rất cô đơn và sợ hãi, nhưng khi mang chuỗi vào người, tôi cảm thấy như đang cầm lấy một bàn tay thân yêu.Tràng chuỗi mầu nhiệm ấy không mấy chốc đã được trao từ tay người này đến người khác. Mỗi khi gặp khủng hoảng hay bệnh tật, người ta thường gọi điện thoại đến Jim để mượn cho bằng được tràng chuỗi ấy.

Jim suy nghĩ: phải chăng tràng chuỗi có một sức mạnh lạ lùng, hay đúng hơn, sức mạnh tinh thần được canh tân nơi tất cả những ai mượn tràng chuỗi ấy. Jim chỉ biết rằng, hễ có ai ngỏ ý mượn tràng chuỗi, anh luôn đáp trả một cách vui vẻ, và lần nào anh cũng căn dặn: “Khi nào không cần nữa cho tôi xin lại. Có thể sẽ có người khác cần đến”.

Cuộc sống của Jim cũng thay đổi kể từ cuộc gặp gõ đó với Mẹ Têrêsa Calcutta. Khi Jim nhớ lại rằng: Mẹ Têrêsa mang tất cả hành lý của Mẹ trong cái xách tay nhỏ, anh cũng cảm thấy được thôi thúc để làm cho cuộc sống của anh được đơn giản hơn. Anh nói như sau: - Tôi luôn cố gắng nhớ rằng: điều quan trọng trong cuộc sống không phải là tiền bạc, danh vọng mà chính là tình yêu chúng ta dành cho người khác.

2. Kinh Mân côi, một kho tàng quý giá của Giáo hội.

Chuỗi hạt Mân côi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính mừng là “…lời ca tụng Đức kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” (ĐGH Phaolô VI, Rosamrum Virginis Mariae, số 18).

Chuỗi Mân côi lần lượt diễn tả:

·         Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.
·         Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.
·         Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.
·         Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.
Vì thế, Chuỗi Mân côi là kho tàng thiêng liêng quý giá của Giáo hội.

Thánh Gioan Phaolô II nói: “ Chuỗi Mân côi là lời kinh tuyệt diệu, tuyệt diệu trong đơn sơ và trong sâu thẳm của nó...”.

Đức Thánh Cha Lêô XIII là vị Giáo Hoàng của kinh Mân côi. Ngài đã ban hành 12 thông điệp nói về Kinh Mân côi. Ngài đã thiết lập tháng Mân côi và thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: Nữ vương rất thánh Mân côi, cầu cho chúng con.

Đức Thánh Cha Piô X đã nhắn nhủ các gia đình Công giáo: “Khi gia đình được an vui hoà thuận, hãy lần chuỗi Mân côi để xin Mẹ ban cho sự an vui hoà thuận yêu thương. Khi gặp người chồng thiếu trách nhiệm, hãy chạy đến với Mẹ nhờ tràng chỗi Mân côi, để xin Mẹ cảm hoá. Khi vợ chồng xung khắc nhau, hãy lần chuỗi Mân côi, xin Mẹ tạo sự cảm thông”.

Thánh Piô Năm Dấu Thánh chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mân côi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì khi tôi xin với Mẹ qua chuỗi Mân côi. Muốn làm Đức Mẹ vui lòng và muốn được Đức Mẹ thương yêu hãy lần chuỗi Mân côi”.

Cha Stefano Gobbi viết: “Chuỗi Mân côi mang lại hòa bình cho bạn. Với lời Kinh Mân côi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, tình yêu và thánh ân”. Và “Chuỗi Mân côi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu”.

Đức Thánh Cha Piô IX đã khuyên nhủ: hãy lần chuỗi mỗi buổi tối trong gia đình.

Đức Thánh Cha Piô X cũng nhắc bảo: Nếu các con muốn cho gia đình được bình an, thì hãy lần hạt mỗi buổi tối.

Đức Thánh Cha Piô XI viết:Chúng tôi khuyên các bậc làm cha làm mẹ hãy tập cho con cái mình thói quen lần chuỗi. Mỗi lần tiếp kiến các đôi vợ chồng trẻ, chúng tôi đều khuyên nhủ họ hãy siêng năng lần chuỗi. Ngay cả chúng tôi nữa, không ngày nào mà chúng tôi không lần chuỗi.

Đức Thánh Cha Piô XII khuyên nhủ các bạn trẻ : Hãy yêu mến Mẹ qua việc lần chuỗi Mân côi. Năm 1951 ngài đã ra thông điệp về Kinh Mân côi, và xin các tín hữu hãy lần chuỗi gấp đôi trong tháng Mân côi. Trong một lần tiếp kiến, ngài nói với một vị Giám mục :

- Hãy yêu cầu các linh mục của ngài cầu nguyện và hãy nói cho họ biết : Đức Thánh Cha vẫn lần chuỗi mỗi ngày.

Khi về già, trước lúc đi ngủ, dù là nửa đêm, ngài cũng vẫn lần chuỗi.

Thánh Gioan XXIII, ngay trong năm đầu của triều đại cũng đã ra một thông điệp về Kinh Mân côi.

Thánh Gioan Phaolô II, ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mân côi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Êlisabeth nói với Mẹ. Toàn thể Giáo Hội cùng liên kết với những lời kinh ấy”.

Các Đức Thánh Cha đều khẳng định về sự tuyệt diệu của Kinh Mân côi và mong muốn mọi tín hữu hãy siêng năng lần chuỗi. Các tín hữu đã đáp trả lời mời gọi tha thiết ấy.

Đức Mẹ rất yêu mến những ai siêng năng đọc Kinh Kính Mừng. Qua kinh Mân côi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả một trăm năm mươi lần, như một trăm năm mươi đóa hoa hồng dâng kính Mẹ, như lời Đức Giáo Hoàng Piô V đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các thánh vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô.”.

3.    Kinh Mân côi, lời kinh gần gũi cuộc sống

Sau hai mươi lăm năm, tức là vào dịp mừng Ngân khánh Giáo Hoàng, trong Tông thư “Kinh Mân côi”, một lần nữa, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ân cần nhắc lại kỷ niệm xưa mà nay đã trở thành xác tín: Kinh Mân côi là lời kinh kỳ diệu. Đơn giản trong hình thức, đơn sơ trong nội dung, nhưng không đơn thuần là một kinh dành cho giới bình dân như có thời người ta nghĩ, nhất là sau Vatican II khi Phụng Vụ tìm lại được vị thế đỉnh cao và trung tâm.

Kinh Mân côi là kinh hạt phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi trình độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ngày nay nhiều người phàn nàn không có giờ đọc kinh vì phải lo học hành, lo làm ăn xuôi ngược. Chuỗi hạt Mân côi sẽ nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Con người hôm nay mệt mỏi, lo âu, căng thẳng, vội vã. Chuỗi Mân côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI khích lệ: “Bản chất việc đọc kinh Mân côi đòi hỏi nhịp điệu phải chậm rãi và có thời gian thư thả, để người ta có thời gian suy gẫm sâu xa về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được nhìn qua Trái Tim của Đấng gần gũi nhất với Chúa.”.

Điều thuận lợi của chuỗi Mân côi là lần hạt ở đâu cũng được. Ta không buộc phải đọc 50 Kinh Mân côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian ta có. Ta cũng có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Ta cũng có thể thì thầm bất cứ lúc nào : khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh … thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, ta cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu ta cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”.

Kinh Mân côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí hòa bình luôn đem lại hiệu quả tích cực. Ai yếu đuối, Kinh Mân côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

Kinh Mân côi là một kinh quý báu của Giáo hội và của mọi người, đó là kinh phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống và xin Mẹ khẩn cầu cho con bên tòa Chúa. Amen.