Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

CHÚA NHẬT XXVI A: ĐỜI HƠN NHAU CÁI GÌ ?

 CHÚA NHẬT 26 A: Mt 21,28-32: ĐỜI HƠN NHAU CÁI GÌ ?


Nói một cách hình tượng thì khi soi gương, người ta có thể nhận ra khuôn mặt của mình, nhưng khó thấy được tấm lưng. Nên thật lý thú, trong một bài báo, cha Thiện Cẩm nói muốn “sửa lưng” phải nhờ đến người khác!

Một hôm, ngôn sứ Na-tan đến hầu chuyện vua Đa-vít. Ngôn sứ kể chuyện: Có người nhà giàu kia, gia sản nhiều chiên dê bò, thế nhưng lại rất bất nhân, vì khi nhà ông có khách, thay vì giết chiên hay bò nhà mình, ông lại bắt con chiên cái độc nhất của một người nhà nghèo bên cạnh để thết đãi. Nghe thế, vua Đa-vít nổi xung thịnh nộ ra phán quyết: “Gia-vê hằng sống, nó đáng chết, con người đã làm điều ấy!” (2Sm 12,5). Lúc ấy, ngôn sứ Na-tan mới tuyên bố: “Con người ấy, chính là Nhà Vua!” (12,7), bởi vì vua Đa-vít đã có nhiều thê thiếp, mà lại còn manh tâm sát hại U-ry-a để đoạt vợ! (c.9).

Ông bà ta xưa có nói: “Chân mình thì lấm bê bê; lại đi cầm đuốc mà rê chân người”. Chính trong lúc vua Đa-vít tưởng mình trong sạch, vô tội, ông đã mạnh mẽ và vội vã lên án kẻ khác thì lại là lúc ông tự ra án phạt cho mình! Những người hợm mình, thích chế giễu lưng gù của kẻ khác mà không ngờ tấm lưng của mình cũng đang còng xuống vì trĩu nặng gánh tội! Cho nên đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đã nghiêm khắc cảnh cáo tầng lớp kinh sư, luật sĩ, biệt phái, các thầy tư tế Do Thái giáo - những con người cao ngạo luôn xem mình là người thánh thiện, tuân thủ trọn hảo lề luật Chúa, để khinh thị những người khác: “Tôi bảo thật các ông: Những người thu thuế, những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,31).

Không ai có thể ngang nhiên tự hào mình là người công chính, mãi mãi sẽ không bao giờ sai phạm nữa. “Cười người chớ khá cười lâu; Cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Cũng không ai mãi mãi phải chôn vùi cuộc đời của mình trong quá khứ tội lỗi. Thành ngữ Trung Hoa có câu: “Cái quan luận định”, nghĩa là: “Chưa đóng nắp quan, chưa thể định luận”. Lời Chúa phán: “Khi người công chính bỏ đường công chính mà làm điều gian phi, rồi vì thế mà phải chết thì chính là vì điều gian phi nó đã làm, mà nó phải chết. Còn khi kẻ bất lương bỏ việc bất lương nó đã làm mà thi hành điều công minh chính trực, thì nó sẽ được sống” (Ed 18,27). Người con cả trong dụ ngôn hôm nay, lúc đầu đã từ chối lời mời gọi của cha - nói cách khác là: anh đã lỗi phạm tình yêu với cha; nhưng sau hối hận, anh đã đi làm, anh đã thực thi ý của cha anh. Điều đó ai cũng tán thành, khen ngợi. Còn người con thứ kia, tưởng mình là người trọn hảo khi đáp “Vâng” ngay với cha, nhưng rồi lại không thực hiện. Lời nói của anh chỉ là lời lẽ suông. Trước mặt Thiên Chúa, đời sống của anh rõ ràng là cuộc sống không vâng lời, không đáp ứng tình yêu, và lòng mong mỏi của cha. Đời sống của anh chỉ là cuộc sống đầy giả dối, tâm hành bất nhất! 

Bên bờ giếng, ông lão lim dim nghe ba phụ nữ nói chuyện khoe về con cái. Bà thứ nhất nói: “Con trai tôi thật lanh lẹ, nó khéo léo tuyệt vời!”. Bà thứ hai chen vào: “Thằng con tôi hát hay như ca sĩ. Giọng nó thật là truyền cảm! Mấy đứa bé của giọng hát Việt Nhí chẳng là gì”. Bà thứ ba có vẻ không vui mấy: “Tôi không hiểu là thằng con tôi có gì hơn người ta chăng?!”. Ba bà đang nói như vậy thì từ xa, ba cậu con trai chạy tới. Người con của bà thứ nhất chống tay xuống đất, nhào lộn thật đẹp mắt. Bà mẹ đắc chí cười tươi. Cậu con của bà thứ hai, điệu bộ như ca sĩ trên sân khấu, hát một bài thật hay, khách qua đường ai cũng phải dừng chân đứng nghe. Người con của bà thứ ba vội vàng đến bên mẹ, ghé vai gánh nước về cho mẹ. Ông lão gật gật đầu: “Cậu này mới là người con giỏi!”. 

Thiên Chúa mời gọi con người phải nỗ lực sống thánh thiện. Người công chính cần phải cố gắng tiếp tục làm những việc công chính. Người gian ác, tội lỗi phải mau từ bỏ đường gian ác, tội lỗi để sống lại ngay chính thánh thiện. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người. Người mong muốn con người được sống và sống dồi dào. Người không muốn ai công chính phải hư đi, cũng chẳng muốn người tội lỗi chịu luận phạt. Nơi Thiên Chúa chỉ có tình thương. Người tạo dựng con người để con người được chia sẻ hạnh phúc với Người. Nhưng được hạnh phúc hay không, còn tuỳ thuộc con người sử dụng quyền tự do Chúa đã ban cho. Dùng tự do của mình để thưa vâng và thi hành lời đề nghị của Thiên Chúa, con người chắc chắn sẽ được hạnh phúc chia sẻ tình thương của Người; bằng ngược lại, chỉ là chuốc lấy bất hạnh và án phạt cho mình.

Như Chúa Ki-tô khiêm tốn “tuy vẫn là Thiên Chúa” nhưng “đã trở nên giống phàm nhân”, “chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8) lại còn ẩn thân dưới hình bánh rượu trong bí tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành, chúng ta hãy nhìn nhận thân phận yếu đuối, mỏng giòn, hay thay đổi của mình, để cầu xin Chúa nâng đỡ cho, hầu luôn có thể sống công chính trước Thánh Nhan Người; và mỗi khi lỡ sa ngã từ chối tình thương của Chúa, chúng ta hãy mau sám hối, thành tâm trở lại và thi hành Thánh Ý Chúa.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Vui với người vui

Chúa Nhật XXV: Vui với người vui (Mt 20,1-16)

Có một lần người thầy của tôi đã nói: “Nếu ai có tính ghen tỵ là tự   hành hạ và tự đầy đọa chính mình. Nó giống như có một con rắn độc trong tim, nên không bao giờ có thể yên vui để thưởng thức mọi niềm vui và hạnh phúc trên đời”

Đó cũng là nỗi đau của bà dì ghẻ của nàng Bạch Tuyết năm xưa. Bà đã sống trong đau khổ khi cố dùng mọi mưu trí hèn hạ để hại người, nhưng rút cuộc “gậy ông lại đập lưng ông”, chính bà nuốt nỗi khổ đau của sự thất bại suốt đời.

Nhưng đáng tiếc, sự ghen ghét, đố kỵ hầu như có mặt ở mọi nơi. Sự ghen ghét có thể ở trong mọi thành phần, mọi giai cấp. Sự ghen ghét thể hiện rất rõ trong những lần trà dư tửu hậu. Trong các quán café. Trong những quán cóc ven đường. Khi có vài người tụ tập thường là có sự ghen ghét nảy sinh. Vì dường như ai cũng có tính ghen ghét người khác hơn là khâm phục, khích lệ lẫn nhau.

Khi ai đó bàn luận về một người  nào đó vừa đẹp, vừa tài năng lại vừa hạnh phúc, thì sẽ có ngay kẻ phán rằng, hạnh phúc đó là tạm thời, giả tạo. Và rồi, là tìm hiểu, moi móc, rêu rao khiếm khuyết của họ.

Sự ghen ghét khiến chúng ta không muốn người khác bằng mình và đương nhiên không bao giờ chấp nhận người khác hơn mình. Đôi khi còn đạp đổ để ai đó không có cơ hội phát triển thêm.
Sự ghen ghét còn ẩn chứa trong cả lời cầu nguyện khi không muốn người khác gặp may lành, và điều tệ hại là còn muốn anh em gặp sự dữ như câu chuyện vui sau:
Chuyện kể rằng có người đàn ông rất may mắn, được Trời cho ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi.
Thế là khi ông ta sở hữu ngôi nhà đẹp, người hàng xóm liền có một dinh thự lỗng lẫy. Ông ta ước mình giàu có, người hàng xóm có hẳn một mỏ vàng...
Không chịu được sự "bất công" đó, người đàn ông may mắn liền ước mình bị mù một mắt để người hàng xóm bị mù cả hai!

Chính lòng đố kỵ đã tạo nên sự nhỏ nhen, biến thành cảm giác hận thù và suy nghĩ mù quáng cho ông ta: thà kém may mắn hơn một chút để người khác đau khổ hơn mình thay vì chọn điều ngược lại.

Hôm nay, Chúa trách những người làm công vườn nho: “chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay là các ông vì thấy tôi tốt bụng mà đâm ra ghen ghét?

Chúa trách là đúng. Vì ai Chúa cũng ban cho có phần, nhưng lại không muốn người khác được phần bằng mình. Khi tính ích kỷ ghen ghét đã lấn át. Cái tôi ngự trị, người ta chỉ còn nghĩ đến mình, thu vén mọi lợi ích cho mình mà quên đi nhu cầu của tha nhân. Ai cũng cần cuộc sống được khá hơn, được thoải mái hơn, nhưng chúng ta lại không chúc phúc cho họ mà còn dèm pha và đạp đổ họ.

Thiên Chúa thì không như vậy. Tình yêu của Chúa vượt qua mọi tính toán thiệt hơn theo kiểu con người. Ngài không ban phát theo lẽ công bằng thường tình mà do lòng thương xót bao la của Chúa. Ngài ban phát cho người thợ giờ thứ nhất cũng bằng người thợ thứ mười một, miễn là họ đã hoàn thành công việc được giao, với tất cả trách nhiệm và thiện chí của mình.

Điều này còn là dấu chỉ cho tình thương cứu rỗi của Thiên Chúa. Ngài sẽ cứu độ mọi người. Ngài dành tình thương cho mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng được cứu rỗi. Tình thương Chúa vẫn dành cho mọi người, nhưng  điều quan yếu là họ đã đáp lại lời Chúa. Họ đã sống lời Chúa. Dù chỉ là thời gian ngắn thì họ vẫn được Chúa ban phúc thiên đàng cho họ như bao người tín hữu khác. Họ phải luôn khoác trong mình chiếc áo của ân sủng, chiếc áo của hiệp nhất trong Chúa thì không bị loại ra khỏi bàn tiệc.

Xin cho chúng ta luôn tin tưởng vào tình thương của Chúa để ăn năn trở về với Chúa. Ước gì chúng ta cũng nhận ra tình thương của Chúa vẫn dành cho chúng ta, dù rằng chúng ta không xứng đáng để nhờ đó mà sống tâm tình tạ ơn Chúa. Ước gì chúng ta cũng biết vui với người vui, khóc với người khóc trong tinh thần tương thân tương ái thay cho tính ghen tương, ích nhỏ nhỏ nhoen thường tình. Amen


Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

TẤM LÒNG THA THỨ

 TẤM LÒNG THA THỨ
Mt 18, 21-35
Ở đời người ta vẫn thường ăn miếng trả miếng.
Ít ai chịu thiệt về mình. Ai cũng muốn mình là trung tâm của vũ trụ. Ai cũng muốn mình hơn người khác. Yêu thương người yêu thương mình là việc dễ làm. Nhưng yêu thương kẻ làm ta khó chịu, bực bội, những kẻ ta ít thiện cảm, những kẻ làm hại ta thì thực là khó. Tấm lòng của Thiên Chúa bao la đại hải. Tấm lòng của con người thì hạn hẹp và có giới hạn. Cựu Ước có luật:" Mắt thế mắt răng đền răng". Chúa Giêsu lại nói nghịch lại :" yêu thương người như Chúa yêu thương". Tha thứ mãi và tha thứ không ngừng...Yêu thương cả kẻ thù.

Tin mừng Mattêu 18, 21-35 cho ta thấy câu hỏi của Phêrô và câu trả lời của Chúa Giêsu. Phêrô muốn sống trọn lành, Phêrô muốn nên giống Chúa. Vẫn với thái độ nhanh nhảu, con người chất phác, đơn sơ, dân dã, Ông đã hỏi Chúa Giêsu:" Lạy Thầy, khi anh em con xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không ?( Mt 18, 21 ). Xem ra câu hỏi của Phêrô hết sức đơn sơ, nhưng lại bao gồm ý muốn sống trọn hảo, ý muốn muốn nên giống Chúa Giêsu. Phêrô quả không dùng ngôn từ" kẻ thù xúc phạm " nhưng dùng từ" người anh em" lỡ phạm đến Ông, Ông phải tha thứ mấy lần có phải bảy lần không ? Chúa Giêsu hiểu rõ tâm hồn, hiểu rõ tấm lòng của Phêrô, nên Người nói:" Không phải bảy lần mà phải tha thứ đến bảy mươi lần bảy", nghĩa là tha thứ mãi mãi và tha thứ không ngừng. Chúa Giêsu muốn làm rõ ý nghĩa của việc tha thứ, Người đã dùng dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót. Chúa tự ví Người như một Ông Vua nhân từ, đầy lòng thương xót. Chúa muốn nhắc lại cho nhân loại, cho chúng ta về một biến cố lịch sử hết sức quan trọng. Biến cố Chúa đến trần gian để gánh tội lỗi cho con người và ban ơn tha thứ cho con người. Do đó, Người đòi hỏi các môn đệ, các người đi theo Chúa phải tha thứ, phải yêu thương quyết liệt, yêu thương như Chúa yêu thương con người. Đây là đòi hỏi rất khó khăn và gắt gao. Chúa lại nêu gương của Thiên Chúa Cha để nói với nhân loại, nói với con người. Thiên Chúa Cha yêu thương mọi người, Ngài làm cho tất cả mọi người được hưởng ánh sáng và nước mưa. Chúa Giêsu còn dùng chính gương của Người để nêu gương tha thứ. Cái chết của Người trên thập giá nói lên tất cả ý nghĩa ấy. Ơn cứu độ của Chúa được trao ban cho mọi người chứ không theo cái lối giải thích vòng vo của những người Biệt phái và Luật sĩ.

Chúa Giêsu đã yêu thương con người và yêu thương nhân loại cho đến chết trên thập giá. Người đã tha thứ cho những kẻ xỉ nhục, làm khổ, làm hại Người. Bị con người làm nhục, hành hình, đóng đinh vào thập giá, Chúa xin Chúa Cha tha thứ cho bọn lý hình. Chúa không hề hờn giận hay thù oán bất kỳ một ai. Lòng tha thứ của Người quá sức kỳ diệu. Con người không thể làm gì được. Đứng trước lòng xót thương, cảm thông, tha thứ của Chúa, con người phải đáp trả lại tấm lòng bao la yêu thương của Chúa. Nếu con người sống trong hận thù, sống trong hờn căm, con người sẽ chuốc lấy cơn thịnh nộ của Thiên Chúa:" Tên đầy tớ độc ác kia, Ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin Ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính Ta đã thương xót ngươi sao ?"( Mt 18, 32-33 ) và Chúa ôn tồn nói như một lời phán xét:" Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình"( Mt 18, 36 ).

Chúa đòi con người phải tha thứ như Chúa. Yêu thương sẽ gặp Chúa và như thế, tha thứ như Chúa con người cũng sẽ được gặp Chúa. Hãy quên đi và vui sống. Hãy tha thứ để được thứ tha. Lời kinh của thánh Phanxicô khó khăn là kim chỉ nam cho con người sống vui, sống hạnh phúc:" Đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hoà vào nơi tranh chấp. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm".

Lạy Chúa xin ban cho chúng con một quả tim mới để chúng con biết yêu thương và tha thứ cho nhau như Chúa đã yêu thương và tha thứ.


Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

SỬA LỖI CHO NHAU

CHÚA NHẬT XXIII TN A: SỬA LỖI CHO NHAU

Nhân vô thập toàn” : ở đời chẳng có ai hoàn hảo, ai cũng có lầm lỗi , và ai cũng cần được sửa lỗi để trở nên người hơn trong tiến trình hoàn thiện. Đó cũng chính là ơn kêu gọi của mỗi người chúng ta : “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”( Mt 5, 48). Sự hoàn thiện nào cũng đòi hỏi phải sửa đổi và điều chỉnh liên tục. Tự nhận ra lỗi lầm và sửa đổi lầm lỗi của mình là điều tốt nhất, nhưng đó là điều hết sức khó khăn, bởi vì tâm lý chung của mọi người là “thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới” (Mt 7, 3). Do đó, mình dễ nhận thấy lỗi của người khác hơn là lỗi của mình, còn người khác thì dễ nhận ra lỗi của mình hơn là lỗi của họ. Chính vì vậy mà để trở nên hoàn thiện thì chúng ta cần giúp nhau nhận ra lầm lỗi của mình. Đây là điều không dễ dàng chút nào, vì nó tùy thuộc vào tính cách và phương cách của người sửa lỗi, cũng như thái độ cùa người nhận lỗi.
Trước tiên, CG dạy chúng ta rằng, sự sửa lỗi mang tính cách riêng tư (Mt 18, 15), tình thân, như một người bạn tâm giao, như một lời tâm sự đầy yêu thương, nhưng thẳn thắn và rõ ràng. Chính vì yêu thương mà Chúa đòi buộc chúng ta phải sửa đổi lẫn nhau, không để cho nhau chết trong lầm lỗi của mình (Ez 33, 7-9). Sửa lỗi cho nhau là vì sự tốt đẹp và ích lợi của nhau. Không có tấm lòng yêu thương chân thật thì mọi cách sửa lỗi đều vô hiệu, mà trái lại còn gây nên phản kháng và chống báng. Càng yêu thương nhau thì sự sửa lỗi cho nhau càng hữu hiệu.
Việc sửa lỗi trong yêu thương đòi ta phải trân trọng người anh chị em mình, một sự trân trọng như chính bản thân của mình để có thể hiểu biết và đồng cảm với nhau khi đứng trước sự việc. Trân trọng vì biết rằng điều quan trọng không phải là sai lỗi, mà là biết sửa lỗi. Trân trọng vì tin vào thiện chí và mầm mống tốt đẹp mà Chúa đã gieo vào lương tâm mỗi người, để nhờ sửa lỗi mà họ được lớn lên trong sự thiện. Không có sự trân trọng trong việc sửa lỗi anh em sẽ là một sự xúc phạm nhân phẩm, chỉ gây thêm thương tổn và tai hại cho đôi bên mà thôi.
Trân trọng thôi vẫn chưa đủ, còn phải biết tế nhị, dịu dàng. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh, vừa nhiều tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ, một thái độ vô tình sẽ khơi thêm hố ngăn cách. Bởi vậy mới cần sự tế nhị để biểu hiệu tấm lòng yêu thương, tạo nên cảm giác an toàn và kính trọng, mở ra một bầu khí tín nhiệm, thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình và khai thông bế tắc.
Yêu thương, trân trọng, tế nhị nhưng cũng phải kiên trì. Việc sửa lỗi không đơn giản một lần là xong, nhưng có những trường hợp phải nhiều lần, nhiềi lượt, nhiều phương án khác nhau để phù hợp cho từng trường hợp riêng biệt. Cần nhớ rằng, sửa lỗi là việc của chúng ta, nhưng kết quả là việc của Chúa. Chúng ta không có khả năng để thay đổi người khác, nhưng cậy dựa vào ơn Chúa để lay chuyển và biến đổi họ trong tình yêu thương và kiên trì. Mỗi tâm hồn là một thế giới riêng biệt, thiếu kiên trì tìm hiểu thì chúng ta dễ lầm lạc, không thể đi vào để nối kết tương giao, và lại càng không thể giúp đỡ để sửa đổi  người anh em mình.
Cuối cùng kinh nghiệm cho tôi biết rằng, sửa lỗi người khác đồng thời đi đôi với việc sửa mình : có nghĩa là duyệt xét lại tâm tình, ý hướng và phương cách của mình cho chân chính và phù hợp, để tránh những chủ quan và thiển cận. Nếu không như thế thì chính tôi lại lầm lỗi trong khi sửa lỗi người khác, tạo nên mâu thuẫn và đối nghịch. Có những trường hợp người khác không thể sửa đổi được nếu chính tôi đã không sửa đổi. Vì thế sự đổi mới trước tiên nơi bản thân tôi mời gọi và thúc đẩy sự đổi mới nơi người khác. Với tấm lòng yêu thương và quảng đại, với cái nhìn hiểu biết và cảm thông của một con người đã từng lầm lỗi và sửa lỗi, tự tâm hồn  tôi có sức thuyết phục và chuyển biến người khác trong sự tương giao đối với họ, giúp họ tự nhận thấy và cải đổi dần dần những lầm lỗi của mình trong ơn thánh Chúa.
Không có sự đổi mới ngoài tình yêu, Chính tình yêu tạo nên sự đổi mới, và người ta chỉ đổi mới vì tình yêu. Tình yêu kêu gọi tình yêu. Hễ có tình yêu là có đổi mới. Tình yêu càng chân thực thì sự đổi mới càng hữu hiệu. Tình yêu càng sâu rộng thì sự đổi mới càng sâu xa. Vì thế điều quan trọng trên hết mọi sự là tình yêu phải chiếm cứ và ngự trị trong tâm hồn ta. Chỉ có tình yêu đích thực mới có khả năng phát sinh mọi điều thiện hảo.
Lạy Chúa, con biết rằng, cây hoa chỉ tuyệt đẹp khi nó được nghệ nhân cắt tỉa và chăm bón hằng ngày. Chúa là một nghệ nhân tuyệt vời và muốn làm nên những công trình tuyệt tác là chính mỗi người chúng con. Nếu con không chịu cắt tỉa thì mãi mãi con chỉ là cây hoa dại bên đường, trở nên tầm thường và gây chán chường cho mọi người, sống mà rồi cũng như chết. Làm người ai cũng muốn đẹp, nhất là nét đẹp tinh thần, nét đẹp của tâm hồn, cái đẹp của sự sống vĩnh cửu. Đó cũng là khát vọng sâu xa của con ngừơi được dựng nên giống hình ảnh Chúa. Dù biết rằng cắt tỉa làm con đau đớn, chịu nhận lỗi làm con cay đắng, chấp nhận sửa lỗi làm con khổ tâm, nhưng con tin rằng tất cả những điều đó đều tuyệt đối cần thiết để con có thể lớn lên trong tình yêu Chúa, trở nên giống Chúa. Ngoài ra, niềm tin vào sự sống vĩnh cửu cho con biết rằng sự cắt tỉa bản thân con hôm nay chuẩn bị cho con một sự thanh luyện gắt gao và kinh khủng cuối cùng của ngày mai trước khi VƯỢT QUA để đi vào VÔ TẬN cùng với Chúa. Con hiểu được điều này khi chiêm ngắm thập giá khổ hình của Chúa, và con tha thiết mong mỏi rằng: đó cũng sẽ là chứng tích tình yêu và niềm hy vọng cuối cùng của cuộc đời con nơi lòng thương xót Chúa.