Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

ĐỨC GIÊSU THẬT SỰ CÓ ẢNH HƯỞNG TRÊN TÔI?

ĐỨC GIÊSU THẬT SỰ CÓ ẢNH HƯỞNG TRÊN TÔI?

Tạp chí chuyên xếp hạng Forbes dịp cuối năm 2012 đã công bố danh sách 10 người quyền lực nhất thế giới, họ là những chính trị gia, những nhà lãnh đạo quốc gia và tôn giáo kể cả nhửng thương gia thành đạt. Trong số 10 người ấy có tên của Đức Giáo hoàng Benedictô. Tại sao một Giáo hoàng – con người khiêm tốn không hề có súng đạn vũ khí, cũng không có quân đội, ranh giới lãnh thổ của Ngài chỉ có 44 ha,… lại được tạp chí này chọn là một trong 10 người quyền lực nhất thế giới? Có lẽ người ta không nhìn Ngài với những yếu tố quyền lực vật chất ở trên, mà người ta nhìn nơi Ngài là một nhà lãnh đạo tôn giáo, tiếng nói của Ngài không chỉ có ảnh hưởng đến hàng tỷ người trên hành tinh này,mà quyền lực của Ngài là quyền lực tinh thần và tiếng nói của Ngài còn có ảnh hưởng trên nhiều nhà lãnh đạo và trên nhiều người nhiều quốc gia khác nữa, mà tiếng nói của Ngài là tiếng nói của lương tâm và công lý.
Như thế quyền lực của giáo hòang hoàn toàn không phải là quyền lực chính trị mà là là quyền lực của sự thật, của công lý, công bình, là tiếng nói của lòng nhân ái của lương tâm và là người bảo vệ lương tâm của nhân loại. Quyền lực ấy chắc chắn không dựa trên cá nhân của Ngài nhưng dựa trên tiếng nói quyền năng của Thiên Chúa và nhân danh Thiên Chúa, nhân danh Đấng sánh lập Giáo Hội là Đức Giêsu- Vị ngôn sứ đầy uy quyền như Tin Mừng hôm nay thuật lại.
Bài đọc một sách Đệ Nhị Luật đã thuật lại những ngày cuối đời của ông Mose- Mose trong mắt của người Do Thái ông là một vị lãnh đạo vĩ đại, người thiết lập và tổ chức các bộ tộc Israel, ông là người của Thiên Chúa, là bạn thân của Thiên Chúa là người có thể gặp Thiên Chúa mặt đối mặt. Mose chính là người theo lệnh của Thiên Chúa đã vào gặp vua Pharaon để yêu cầu vua cho dân đi tế lễ Thiên Chúa, ông đã làm nhiều phép lạ theo lệnh của Thiên Chúa, đã dẫn dân Israel qua sa mạc, qua biển đỏ, ông cũng là người đại diện cho dân để ký kết giao ước với Thiên Chúa và hơn ai hết ông cũng là người đau khổ vì thấy dân phản bội Thiên Chúa và lại cũng là người đứng ra biện hộ xin Chúa tha tội chết cho dân Israel.
Khi đã đến bờ sông Giodan chuẩn bị vào Đất Hứa, Mose đã cao tuổi và ông không còn sức để lãnh đạo dân nữa, đoạn sách chúng ta vừa nghe có thể gọi là những lời trăn trối của Mose để lại cho Israel, ông nhắc lại những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm chỉ vì yêu thương và muốn tuyển chọn Israel làm dân riêng của Ngài và ông còn tiên báo với dân rằng sau khi ông chết Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện giữa anh em một ngôn sứ như tôi, Chúa nói: Ta sẽ đặt những lời của ta vào miệng người ấy, anh em hãy nghe vị ấy. Lời tiên báo này vừa là lời an ủi vừa là niềm hy vọng và là sức mạnh cho dân Israel.
Vị Ngôn sứ mà Mose đã tiên báo nay đã xuất hiện, đó chính là Đức Giêsu Nazareth, sự xuất hiện của Ngài, cùng với lời rao giảng và những phép lạ đã khiến cho người Do Thái thán phục vì Người giảng dạy như Đấng có uy quyền chứ không như các kinh sư. Uy quyền của Đức Giêsu thể hiện từ lời nói và cả con người của Ngài vì Ngài giảng dạy không dựa vào bất cứ ai mà Ngài nói và giảng dạy với quyền năng và tư cách của một vị Thiên Chúa. 
Câu chuyện thánh Marco kể hôm nay muốn chứng minh điều đó, người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người bị thần ô uế nhập, vừa thấy Chúa Giêsu nó đã hoảng hốt kêu lên: Ông Giêsu Nazareth chuyện chúng tôi có can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi, là Đấng thánh của Thiên Chúa. Quyền năng của Chúa Giêsu là quyền năng khai mở Nước trời, mở ra một thời đại mới thời của quyền lực ánh sáng và sự sống, thời mà ơn cứu độ được ban tràn ngập địa cầu, chính vì thế, ma quỷ đã thấy số phận của chúng đã tận cùng, chúng sẽ bị tiêu diệt nên mới kêu lên: Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Chúa Giêsu không cần đến lời tuyên xưng của ma quỷ, Ngài buộc chúng phải câm miệng và xuất ra khỏi người bệnh và chúng phải nghe lời.
Thánh Marcô cũng ghi lại phản ứng của những người chứng kiến, họ ngạc nhiên và sợ hãi, họ thắc mắc và hỏi nhau: Thế nghĩa là gì? Và họ bình luận: Lời Người giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền, ông ấy ra lênh cho cả thần ô uế và chúng phải tuân lệnh. Trong thế giới quan của người Do Thái, mọi sư dữ sự xấu và bệnh tật đều do ma quỷ gây ra và con người dường như bất lực trước thế lực của nó thì bây giờ họ thấy Ông Giêsu Nazaret đã vượt trên các thế lực ấy chứng tỏ rằng ông thực sự là một Ngôn Sứ có uy quyền mà Mose ngày xưa đã nói đến.
Chúa Giêsu là một vị Ngôn sứ có uy quyền trong cái nhìn của người Do Thái, còn đối với chúng ta hôm nay chúng ta có thực sự nhìn nhận uy quyền của Ngài trên vũ trụ và trên cuộc đời của chúng at hay không? Tin Đức Giêsu, nhưng nhiều người vẫn không nhìn nhận quyền năng của Người, khi người ta không để cho Ngài có một vị trí tuyệt đối trong cuộc đời mình. Khi chúng ta cậy dựa vào sức mình mà không cậy dựa vào Thiên Chúa, là chúng ta đã từ chối uy quyền của Người, từ chối sự dẫn dắt và điều khiển của Người.
Thưa quý OBACE, Là Kitô hữu, là công dân Nước trời, chúng ta vẫn cầu xin cho Nước Chúa hiển trị, mà Nước Chúa sẽ bắt đầu từ trong tâm hồn mỗi người, khi chúng ta để cho Ngài chữa lành tâm hồn, tha thứ tội lỗi và biến đổi chúng ta nên những người con của Chúa bằng cách sẵn sàng để cho Thiên Chúa bước vào cuộc đời của chúng ta. Để Nước Chúa được làn rộng và quyền uy của Thiên Chúa bao trùm, thì chính chúng ta phải đón nhận Lời của Ngài và làm theo giáo huấn của Ngài. Hãy để cho Ngài xua đi những bóng tối của gian ác, của gian dối bất công trong tâm hồn và trong gia đình, hãy để cho Ngài xua đi những giận dỗi thù oán trong tâm hồn và để Ngài xây dựng lại bầu khí hạnh phúc và ấm cúng trong gia đình.
Ma quỷ và thần ô uế là những thế lực có thật và nó luôn rình chờ để tấn công chúng ta nó sẽ tấn công bất cứ lúc nào, nó phục kích ngay trong mỗi người, qua những dục vọng, những lôi kéo của xác thịt thế gian, của lối sống hưởng thụ, nếu chúng ta không có Chúa trong tâm hồn để bảo vệ chúng ta, thì ma quỷ sẽ thống lĩnh trong tâm hồn Chúa ta. Khi chúng ta đến với Chúa với lòng khiêm tốn kính phục qua việc cầu nguyện, qua các Bí tich, Chúa sẽ dùng quyền năng và Lời của Ngài để xua trừ ma quỷ ra khỏi chúng ta. Ngày hôm nay những thần ô uế nó đang hoạt động dưới nhiều hình thức khác như phim ảnh sách báo xấu, như những hang ổ tội lỗi được trá hình dưới quán đèn mờ,… còn nhiều thứ thần dữ, những con ma khác đang chiếm lĩnh nhiều người đó là ma túy, ma men kể cả con (ma tiền bạc) money đang hành hạ nhiều người,… hãy tin tưởng đến với quyền năng của Thiên Chúa, Ngài sẽ xua trừ chúng và chữa lành vết thương cho chúng ta.
Là môn đệ của Đức Kitô, chúng ta cũng được chia sẻ vào quyền năng của Ngài và sử dụng quyền năng ấy nhân danh Ngài; Chúng ta sẽ thực thi quyền ấy ngay trong gia đình của mình: những người làm cha mẹ, hãy dùng lời nói và gương sáng và trách nhiệm để giáo dục dạy dỗ con cái sống theo đường lối của Chúa, bảo vệ con cái và gia đình, xua trừ khỏi gia đình mình thứ ma quỷ lười biếng, rượu chè, cờ bạc, số đề, cãi vã,… đang làm tan nát và gây đổ vỡ bất hạnh cho nhiều gia đình. Hãy dùng tình yêu thương và quyền hạn của cha mẹ để thiết lập nên nề nếp đạo đức của gia đình bằng những giờ kinh giờ cầu nguyện sớm tối và những thói quen tốt lành, những bữa cơm ấm cúng.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Xin cho chúng nên một

Xin cho chúng nên một

Kính thưa Quý Ông Bà Anh Chị Em, hàng năm, từ 18-25/1 giáo hội lại dùng những ngày đặc biệt này để cầu cho sự hiệp nhất trong giáo hội. Hôm nay, nhân Chúa Nhật III TN, tôi muốn dùng ngày này, ngày cuối của tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất của giáo hội để bàn về sự hiệp nhất.
Chúng ta hãy cùng nhau nhìn về Thầy Giêsu:
1. Thầy nhấn mạnh quá đủ về lòng khao khát của Thầy cho sự hiệp nhất trong nhân loại chưa? Thầy đến trần gian để làm công việc đó: luôn tôn trọng sự đa dạng hợp lý về tính tình của họ, về tư cách của chủng tộc - sự đa dạng làm nên sự phong phú của nhân loại - Thầy mời gọi mọi người sống trong tình yêu Thầy, họ là những tế bào sống động của thân mình mà Thầy là đầu.
Mỗi người khác nhau, nhưng tất cả bổ túc cho nhau.
Thầy thương yêu mỗi tâm hồn một cách. Mỗi người có chỗ riêng trong thân thể Thầy, có sứ mạng riêng mà không ai khác có thể thay thế.
Mỗi người có phận sự riêng và vẻ đẹp riêng, có cách thức duy nhất để tôn vinh Cha qua Thầy. Nhưng tất cả chúng con đều lệ thuộc lẫn nhau.
Chúng con càng hiệp nhất với nhau, Thầy càng có thể hiệp thông với chúng con và cho chúng con chia sẻ niềm vui vô tận của  Chúa Ba Ngôi.

2. Hãy tìm kiếm những gì có lợi cho sự hiệp nhất nhân loại và hãy tránh xa những gì làm chia rẽ.
Không có một bên hoàn toàn tốt, một bên hoàn toàn xấu. Chính trong mỗi người có cái xấu và cái tốt.
Con hãy tập khám phá cái tốt nơi mỗi người và làm nổi bật giá trị của họ với lòng tôn trọng và quí mến.
Con sẽ góp phần trong việc làm trung dung cái không mấy tốt và con sẽ làm xích lại gần nhau cách dễ dàng các tư tưởng, con tim và ý chí.
Hãy vững vàng trong đức tin, nhưng đừng cuồng tín.
Hãy vững mạnh trong hy vọng, nhưng đừng nghĩ mình hơn ai.
Hãy trung tín trong tình yêu, nhưng chớ gì tình yêu của con rộng mở cho mọi người.

3. Hiệp nhất là sức mạnh truyền thông. Nó khởi đi như một hạt nhỏ xíu, như Vương Quốc của Thiên Chúa, nhưng nó có thể thành cây lớn, cành lá xum xuê, bông hoa rực rỡ với những trái thơm ngon.
Mọi nơi con đến, hãy cố gắng là dây liên đới, nhưng trước hết hãy là gạch nối giữa Thiên Chúa và con người.
Từ trong thâm tâm, trước hết con hãy giao hoà mọi anh em đồng loại. Khi cầu nguyện, con hãy mang lấy tất cả sự chán chường, nỗi khốn cùng của họ. Hiệp nhất lời nguyện của con với lời cầu của Thầy, và như thế lời van xin của con rất có hiệu lực cho mọi người.
Khi làm việc, con hãy nhớ tới tất cả mệt nhọc của anh em con. Hãy kết hiệp việc con làm với công việc Thầy đã hoàn tất trên trái đất, để nguồn tình yêu chảy tràn trên mọi lao nhọc của nhân loại.
Lúc đau khổ, con hãy mang vào mình mọi đau khổ của nhân loại. Hiệp thông với thập giá của Thầy. Như thế, con cho đau khổ của anh em con một giá trị cứu độ.

4. Với hết tâm tình, con hãy mong ước sự hiệp nhất, hy sinh cho sự hiệp nhất.
Hãy tha thứ cho sự xúc phạm đến con, hãy có những tư tưởng tốt đẹp đối với mọi người. Làm như thế, con xây dựng sự hiệp nhất hiệu lực hơn những bài bút chiến báo thù. Tất nhiên không phải những ai kêu gào: "Hiệp nhất! Hiệp nhất!" là góp phần đắc lực hơn cho sự hiệp nhất đâu.
Thầy không khuyên con  nên dại khờ. Chúng con phải biết liên kết sự khôn ngoan của con rắn với sự đơn thành của chim câu. Nhưng hãy giữ mình khỏi độc tài. Người thiên vị và óc đảng phái nghịch với tinh thần của Thầy.

5. Người Kitô hữu có trách nhiệm lớn lao đối với những gì có liên quan đến sự hiệp nhất trong nhân loại. Nếu họ sống hoàn toàn theo đức tin, họ sẽ đánh đổ thành kiến và sẽ làm vui lòng nhiều người.
Lời nói không làm nên nhân đức, chính cuộc sống của người Kitô hữu, qua nhân chứng cụ thể, cho nhân đức ý nghĩa và hiệu quả.
Phần con, hãy sống những gì Thầy dạy. Đó là cách thế tốt nhất để Lời Thầy được chấp nhận và thấu hiểu.
Nếu mọi tâm hồn đã được thánh hiến qua phép Rửa, nhất là thánh hiến qua đời tu, cố gắng cách chân thành đem Tin Mừng vào cuộc sống của họ, tấm áo dài không đường may của Giáo Hội đã không có nhiều chỗ rách!

6. Con càng im lặng, lu mờ đi, tôn trọng sự tự do của người khác, không tìm cách cai trị, cũng không muốn thống trị họ, con càng giúp họ đến gần Thầy trong tự do và ý thức tình nguyện. Con càng muốn củng cố mình, bắt người khác theo sở thích, ước muốn, hành vi, ý tưởng của mình, hoặc cưỡng ép người khác không kể chi đến họ, thì hành động của con càng kém hữu hiệu và có nguy cơ con đào sâu hơn hố ngăn cách.
Đừng tìm cách phỉnh gạt, ép buộc, quyến rũ; Thầy kêu gọi, mời mọc, thu hút, cho mọi người ánh sáng tùy ở mức đón nhận của mỗi người.
Thầy không đặt để theo ý mình, không loè bịp, không ép uổng, không bẻ gẫy, không cưỡng bách, không nghiền nát. Thầy yêu mến và luôn luôn sẵn sàng chờ đợi. Thầy ở giữa chúng con như người phục vụ.
Thành công của một người không hệ ở số người phục vụ họ, mà ở số những người mà họ phục vụ.

7. Để có được sự hiệp nhất, cần nhiều hy sinh cá nhân, kiên nhẫn trong vui tươi, cần rất nhiều tình thương. Mọi người sẽ tốt hơn nếu họ cảm thấy mình được yêu hơn.
Còn trên trái đất, con đừng chờ công lý thực hiện hoàn toàn mới tạo ra bầu khí hiệp nhất và yêu thương. Chính vì có bất công mới phải yêu thương, mới phải đề phòng để vươn lên: dĩ đức báo ác. Như vậy đó, không thể khác, bất công sẽ bị đánh bại, ngăn cách sẽ được xoá bỏ, hố sâu sẽ được lấp đầy.
Nếu con muốn xây dựng sự hiệp nhất giữa con người, con phải chấp nhận mầu nhiệm thập giá.
Phải, chấp nhận thấy những mơ ước của con bị bẻ gẫy, nhưng con hãy luôn giữ vững lý tưởng.
Phần thưởng lớn lao con sẽ lãnh nhận trong thế giới vô hình, đáp ứng độ khát khao sự hiệp nhất mà Thầy làm nẩy sinh trong tâm hồn con.

8. Ơn cứu chuộc nhân loại, không thể hiện qua sự thành công của con người, không theo hình thức bên ngoài, cũng chẳng theo lòng ham danh được toại nguyện, dù đó là việc tông đồ đi nữa. Nhưng nó thực hiện qua đau khổ của vị tông đồ thông hiệp với cuộc khổ nạn của Thầy.
Tại vườn Giệtsimani, Thầy đã cầu cho sự hiệp nhất: "Ước gì chúng nên một. Như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, chúng nên một trong Chúng Ta. Con đã mạc khải cho chúng sự sống tuyệt vời mà Cha đã cho Con. Xin cho chúng nên một, Con ở trong chúng và Cha ở trong Con. Xin cho sự hiệp nhất nên trọn".
Hãy tin tưởng, điều đó đang đến và sẽ đến: Thầy đã thắng thế gian!


Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

Các ngươi tìm gì?

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN B: “Các ngươi tìm gì?” (Ga 1,38)

Ga 1, 35-42
Câu chuyện chúng ta vừa nghe là một trong những câu chuyện đẹp nhất trong Tin Mừng. Qua câu chuyện hôm nay, Chúa cho chúng ta thấy đâu là mục đích của cuộc sống của chúng ta trên cõi đời này.
A- BỐI CẢNH
1. Chúng ta nhớ lại một chút hoàn cảnh lúc xẩy ra câu chuyện: Hôm ấy Gioan Tẩy Giả đang rao giảng và làm Phép Rửa cho dân chúng, bất ngờ Chúa Giêsu xuất hiện trước mắt ông cũng như mọi người.
Thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, ông vội chỉ vào Ngài và giới thiệu Chúa với mọi người. Ông mạnh dạn đưa tay chỉ về phía Chúa đang đi và nói: "Đây là chiên Thiên Chúa." (Ga 1,36).
Được Thầy của mình giới thiệu như thế, hai môn đệ của ông đã bỏ đám đông mà đi theo. Chúa đi trước và họ theo sau. Xem chừng như Chúa cốt ý đi chậm lại để họ có thể bắt kịp Ngài. Và khi thấy họ đã ở gần bên, Chúa quay lại và mở lời trước: "Các ngươi tìm gì?" (Ga 1,38)
Họ ngỡ ngàng trước câu hỏi của Chúa. Thay vì trả lời bằng một câu khẳng định thì họ lại trả lời bằng một câu nghi vấn: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" (Ga 1,38). Chúa hỏi:"Các ngươi tìm gì?" Họ trả lời: "Thưa Thầy Thầy ở đâu?"
Rõ ràng là câu trả lời còn bị treo. Bị treo nhưng không có nghĩa đã bế tắc. Một lần nữa Chúa lại đi bước trước để khai thông vấn đề. Chúa bảo họ: “Hãy đến mà xem”(Ga 1,39)
2. Kết quả câu chuyện.
Không biết Chúa đã nói với họ những gì. Chỉ biết sau khi sống với Chúa một ngày, vâng chỉ có một này, họ ra về và tuyên bố: Chúng tôi đã gặp thấy Đấng Messia nghĩa là Đấng Cứu Thế.” (Ga 1,41)
Một khám phá bất ngờ nhưng tuyệt diệu!
+ Lúc đầu Chúa hỏi: "Các ngươi tìm gì?" Khởi đầu cuộc hành trình họ chưa thấy được mục tiêu.
+ Vào cuối cuộc hành trình thì đích điểm đã rõ ràng: Chính họ cũng không thể ngờ tới. Họ đã tìm thấy Chúa và sau đó một thời gian họ đã trở thành môn đệ của Ngài.
B- BÂY GIỜ ĐẾN LƯỢT CHÚNG TA
Giả như Chúa hỏi: "Bạn, các bạn tìm gì?" Chúng ta sẽ trả lời với Chúa thế nào?
1. Tìm danh
Có người đã để cả cuộc đời của mình đi tìm danh vọng. Họ sẵn sàng trả mọi giá để có được nó.
Hêrôđê là một thí dụ. Ông đã trả một giá khá cao để có được ngai vàng và để bảo vệ ngai vàng đó ngay từ lúc vừa mới lên ngôi ông đã cho thủ tiêu các thành viên trong Tòa Án Tối Cao của người Do thái. Sau đó ông đã không ngần ngại tàn sát các nhân viên trong tòa án mà không cần suy tính trước. Chưa hết vì sợ cả những người trong gia đình có thể làm nguy hại đến ngai vàng của mình ông đã giết luôn người vợ là bà Mariamne và người mẹ nàng là bà Alexandra. Giết như vậy cũng chưa đủ, ông giết luôn người con trưởng là Antipater, và sau đó là hai người con trai thứ: đó là Alexander và Aristobolus. Giết như vậy ông cũng chưa an tâm, ngay khi còn trị vì ông đã lên kế hoạch để tàn sát hết các nhân sĩ tại thành Giêrusalem khi ông lâm chung.
Và chắc hẳn anh chị em không thể nào quên việc ông đã cho lệnh giết hết các trẻ thơ từ hai tuổi trở xuống tại thành Bêlem và các vùng phụ cận chỉ vì sợ sau này một trong những đứa trẻ ấy sẽ chiếm mất ngai vàng của ông!.
Vâng đó là một thí dụ trong muôn ngàn thí dụ cho chúng ta thấy cái giá phải trả cho một cho một cuộc săn tìm danh vọng. Thế nhưng rồi cuộc đời của ông sẽ đi về đâu? Có sống mãi để ngự trên cái ngai vàng mà ông đã phải trả một giá quá đắt để bảo vệ nó không? Lịch sử cho chúng ta thấy kết cục cuộc đời của ông cũng là chốn lao tù và ông đã phải nhận một cái chết không toàn thây!
2. Tìm tiền
Có người dành suốt đời để tìm tiền bạc. Để biện minh cho việc tìm kiếm tiền bạc là một điều chính đáng người ta đã mặc cho tiền bạc một giá trị hầu như thần thánh, có một sức mạnh vô song


Tiền là tiên là phật.
Là sức bật của lò so.
là thước đo của lòng người.
Là nụ cười của tuổi trẻ.
Là sức khỏe của người già.
Tiền là hy vọng.
Là cái lọng che thân.
Là cái cân công lý.
Tiền là hết ý.



Tiền bạc cần thật. Rất cần là đàng khác nhưng nó không phải là thần, là thánh như nhiều người tưởng.
Vua Louis XV thăm thống chế De Saxe trong cơn hấp hối.
- Nhà ngươi muốn xin gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho.
- Tâu hoàng thượng xin hoàng thượng cho hạ thần được sống thêm một giờ nữa để thanh toán các việc cho xong.
Vua Louis quyền thế nhưng cũng phải ngậm ngùi rút lui.
Ngày kia, một nhà tỷ phú trên giường chết đã phải tuyên bố:
- Trong 40 năm trời, tôi đã làm việc như người nô lệ để chất đống của cải lên; sau đó tôi lại phải coi giữ như một thám tử và tất cả những của cải đó đã cho tôi cái gì? Thức ăn, nhà ở và quần áo…, chỉ có thế chứ không còn gì hơn nữa.
Tiền bạc cần nhưng chỉ cần như một giá trị trao đổi chứ không cần như là mục đích.
3. Tìm lạc thú
Có người cả đời đi săn tìm lạc thú
Cha Michel Quoist bảo: "Lạc thú là một cơn đói không bao giờ biết no, một cơn khát không bao giờ thỏa."
Augustinô lúc còn trai trẻ đã nếm đủ hết mọi thứ lạc thứ ở trên đời. Nhưng rồi cũng chính chàng thanh niên đó sau khi đã chán ngán với những thứ mình đã hưởng thụ phải thốt lên: "Hỡi Augustinô! Khi săn đuổi lạc thú ngươi đã tìm thấy cái gì?"
- Thomas Merton: Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi, năm 20 tuổi ông trở thành đảng viên cộng sản. Ông hoàn toàn không tin gì về những sự siêu nhiên và sống một nếp sống chạy theo vật chất, lạc thú. Một đêm kia khi đang ở trong một khách sạn, tự dưng ông nhìn lại đời mình, thấy nó quá trống rỗng và cũng quá nhầy nhụa, đến nỗi ông chê chán chính mình. Lúc đó chẳng biết làm gì khác, Thomas Merton quỳ gối xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, từ trước tới nay tôi chẳng hề tin Chúa và ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết có Chúa hay không. Nhưng nếu thật có Chúa thì xin Ngài hãy giúp kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhầy nhụa của đời tôi hiện tại". Đêm hôm đó lần đầu tiên Thomas Merton cầu nguyện. Ông đã gặp được Chúa và từ đó mãi mãi gắn bó với Chúa. Sau đó ông đi tu dòng Trappe. Mọi sự bắt đầu từ một đêm gặp Chúa.
Vâng! Danh vọng, tiền bạc và lạc thú... Các nhà tu đức học thường gọi là danh lợi thú là như thế.
Nếu anh chị em có theo dõi những biến chuyển xẩy ra ở một số nước Bắc Phi gần đây thì anh chị em đã phải thấy, những con người như tổng thống Mubarak ở Ai Cập, tổng thống Gadahfi ở Lybie nào họ có thiếu gì thế nhưng cuộc đời của họ kết thúc như thế nào thì mọi người đã biết.
Còn hai môn đệ của Gioan thì sao?
Hai môn đệ của Gioan đã gặp được Chúa.
Chúa không dẫn họ đến giầu sang,
Nhưng cho họ thấy thế nào là một cuộc đời có ý nghĩa để họ tự chọn.
Charles Fox: "Những người tư cách như thế sẽ lưu danh muôn thuở trong khi bọn vua chúa và mũ miện của họ đội trên đầu đều đã trở thành cát bụi".
Họ không tìm của cải nhưng hỏi có gia tài nào sánh được với gia tài nuớc trời của họ hay không?
Họ đã không đi tìm danh vọng nhưng thử hỏi còn có chỗ nào cao trọng địa vị mà họ có hôm nay trên thiên quốc hay không?
Họ không đi tìm lạc thú nhưng thử hỏi có niềm vui hạnh phúc nào so sánh được với niềm vui và hoan lạc mà họ đang có hôm nay không?
Xin được kết thúc bằng lời khuyên của Mẹ Têrêsa: "Hãy tìm Chúa Giêsu, bạn sẽ tìm thấy sự an bình. Đừng cho phép bất cứ điều gì cản trở tình yêu của bạn dành cho Chúa Giêsu. Ngài là niềm vui và sức mạnh của bạn. Hãy đến với Ngài để được yêu thương, được thông cảm và có được lòng can đảm đáp lại tiếng gọi của Ngài bằng một từ giản dị: “xin vâng”.


Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA
          
          Tại sao Chúa Giêsu lại chịu phép rửa ? Các thánh sử đưa ra nhiều khía cạnh như Matthêu (3,14-15), Luca (3,21) hay Gioan (1,31-34). Các thánh giáo phụ còn đưa ra nhiều lý do khác, ví dụ  Chúa chạm đến nước để thánh hóa nước  và làm cho nước được thần lực tẩy xóa tội lỗi trong Bí tích Rửa tội…

          Chúa Giêsu xin đến rửa, không phải là cho mình, mà là cho người khác, vì người khác. Người chịu phép rửa là có ý nói lên : từ nay, Người chung số phận với người tội lỗi và đó là tất cả ý nghĩa đời Người, và cuộc đời này chỉ hoàn tất với Phép Rửa cuối cùng, của sự chết (Lc 12,50) vì chết là cùng chung số phận của con người tội lỗi, con người bị sa ngã và là số phận bi đát nhất, tệ hại nhất.

          Chúa Giêsu đến với ông Gioan để lãnh nhận phép rửa, nhưng chính ông Gioan đã khẳng định ông chỉ làm phép rửa bằng nước, còn Chúa Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.  Chúa Giêsu đã khai mở bí tích Rửa tội cho những kẻ theo Người bằng việc đích thân Người xin lãnh phép rửa từ Gioan. Chúa Giêsu muốn chúng ta có sự tiếp nối giữa Giao ước cũ và Giao ước mới, tiếp nối giữa lời rao giảng của vị tiên tri cuối cùng cao đẹp hơn tất cả các vị trước  với lời rao giảng của chính Người để thiết lập Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, lễ rửa này Người đã biến đổi để có thể thực sự khai mào cho Bí tích Rửa tội.

          Khi Chúa Giêsu để cho Gioan dìm mình trong nước không phải là để thanh tẩy Người vì Người không vương tội lỗi, Người muốn nói lên một ý nghĩa khác, đó là loan báo cái chết và sự phục sinh của Người : dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết, trồi lên khỏi nước là loan báo sự sống lại.

          Khi chúng ta nhận lãnh bí tích Rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta  tham dự vào sự chết và sống lại của Người.  Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo Thiên Chúa khi được rửa tội.  Trong phép rửa tội chúng ta được thanh tẩy mọi tội lỗi, tội tổ tông và tội riêng.  Do đó, nó biến chúng ta thành “một tạo vật mới” (2Cr 5,17), một nghĩa tử của Thiên Chúa (Gl 4,5-7), được thông phần vào sự sống thần linh (2Pr 1,4), trở nên chi thể của Chúa Kitô (Rm 8,17) và được gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cr 6,15).

          Đó chính là ơn siêu nhiên, “ơn thánh hóa”, “ơn sủng của sự công chính hóa” mang lại các nhân đức đối thần và luân lý, cùng các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Tóm lại, “toàn bộ cơ thể của sự sống siêu nhiên của người Kitô hữu bắt nguồn nơi bí tích Rửa tội (Giáo lý Công giáo, số 1266).

          Ngày được chịu phép rửa tội là một ngày trọng đại, ngày đáng ghi nhớ của chúng ta. Đức Giáo hoàng Piô XI đã nói với hàng ngàn thanh niên nhân ngày kỷ niệm rửa tội của Ngài :”Ngày chịu phép rửa tội  là ngày cao quí nhất của đời Cha. Cũng như ngày các con chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời các con”.

          Chúng ta đã được chịu  phép rửa tội, một hồng ân cao quí Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta cũng nên có một vài cảm nghĩ về phép Rửa tội.

          Phép rửa không chỉ được ban một lần khi chúng ta được mang đến giếng Rửa tội trong nhà thờ.
          Chúng ta được rửa bởi tất cả các biến cố xẩy ra trong đời :
          - Chúng ta được rửa bởi những cực nhọc, khó khăn : đó là những dòng nước biến động thanh luyện chúng ta  khỏi những gì gian trá và vô dụng.
          - Chúng ta được rửa bởi những đau khổ, buồn rầu : đó là những dòng nước u ám nhưng chỉ có khả năng giúp ta lớn lên trong đức khiêm tốn và cảm thông.
          - Chúng ta được rửa bởi niềm vui : đó là dòng nước róc rách khiến ta cảm nghiệm được vị ngọt của cuộc đời.
          - Chúng ta được rửa bởi tình yêu : đó là dòng nước ấm áp làm cho đời ta tươi nở như hoa  dưới ánh nắng mặt trời.
          Phép rửa là một hạt giống, cần phải nảy mầm trong suốt cả đời sống.
             (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm C, tr 119)

          Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu phép rửa không thể không nhắc nhở chúng ta  nhớ đến sứ vụ của người Kitô hữu. Nhờ Bí tích Rửa tội chúng ta được nhận làm con Thiên Chúa, được hưởng gia tài vĩnh cửu của Thiên Chúa và nhất là cùng được sai đi  đến với mọi người.  Không việc làm gì cụ thể khác hơn là chúng ta học theo mẫu gương của Đức Giêsu và thực thi sứ mạng rao giảng Tin mừng, để nối tiếp công việc của Ngài.

          Là con cái Thiên Chúa quả là một hạnh phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho mỗi người. Nhưng chúng ta phải làm gì để Chúa Cha được hài lòng ? Nếu Bí tích Rửa tội được cử hành cần đến nước thì cuộc sống người Kitô hữu cũng cần được gội rửa trong nước để trở nên thanh sạch và bắt đầu cuộc sống mới, trở nên con người  mới thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa. Muốn được như vậy mọi suy nghĩ, lời nói, và hành động của chúng ta  phải phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa, hơn là ý riêng của mình, và hãy để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt như Đức Giêsu.


Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

LỄ HIỂN LINH: XA MÀ GẦN - GẦN MÀ XA

LỄ HIỂN LINH: XA MÀ GẦN - GẦN MÀ XA
Kính thưa Quý ÔBACE, hôm nay là Lễ Hiển Linh. Qua việc ba nhà đạo sĩ  từ Phương Đông đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu mới sinh, Phụng vụ Giáo Hội muốn hướng chúng ta về những biến cố “thần hiện” của thời Cựu Ước. “Thần hiện” là việc Thiên Chúa tỏ mình cho người trần được thấy, qua đó Ngài thể hiện quyền năng của Ngài. Mỗi khi tỏ mình như vậy, Ngài thường thông truyền cho họ một sứ điệp.
Nếu Đấng Gia-vê trong Cựu Ước thường tỏ hiện trong uy nghi sấm sét, thì nay, Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người lại tỏ hiện trong khiêm hạ tột cùng. Thiên Chúa không còn nói với chúng ta qua sấm sét hãi hùng, nhưng Ngài tâm sự với chúng ta qua Người Con. Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa. Lời ấy nhập thể nơi trần gian để tâm sự với con người. Nếu Đấng Gia-vê trong Cựu Ước tỏ bầy quyền uy mỗi khi tỏ mình , thì Đức Giêsu lại bày tỏ tình yêu. Lịch sử Cứu độ đã sang  trang mới. Một cuộc sáng tạo mới đã được thực hiện trong Đức Giêsu và qua Đức Giêsu. Nơi Người, quan niệm và hình ảnh về Thiên Chúa đã trở nên gần gũi, bao dung, mọi người đều có thể đến gần và gặp gỡ.
Những người đầu tiên gặp gỡ Ngôi Lời nhập thể, đó là Maria, là Giuse, là những mục đồng chân quê chất phác. Đó còn là những người trí thức uyên thâm, đang khao khát đi tìm chân lý. Họ đại diện cho cả nhân loại đến để tôn nhận vương quyền của Đấng Cứu Thế.
Nếu những người từ “phương xa” đã lên đường vất vả tìm đến Be-lem, thì những người “ở gần”, những người “trong nhà” lại dửng dưng  trước việc Ngôi Lời thăm viếng trần gian. Thánh sử Mát-thêu nói với chúng ta: “Hê-rô-đê ngầm triệu tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại để hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu”. Có lẽ số người được tham vấn này đông lắm. Họ thông thạo Kinh Thánh. Họ hiểu biết lời các Ngôn sứ. Họ biết rõ Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra tại đâu. Nhưng họ lại không để ý đón tiếp Người. Tác giả Tin Mừng Gioan đã viết với một âm giọng buồn: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).  Không những chỉ là dửng dưng, mà còn là một âm mưu phá hoại như trường hợp Hê-rô-đê. Ông đã giả mạo dự tính đi bái thờ Vua mới sinh với ý đồ đen tối.
Là người Công giáo, chúng ta vẫn tự hào là “người trong nhà”. Chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đức Kitô trong dịp Giáng Sinh chưa? Gặp gỡ Người qua đời sống cầu nguyện, qua thiện chí  hối cải, qua những công việc bác ái. Giáng Sinh là ngày sinh nhật của Đức Giêsu, mọi người đều nô nức chuẩn bị đón mừng ngày lễ này. Tuy vậy, xem ra “nhân vật chính” là Đức Giêsu lại không được mời. Đối với nhiều người trong chúng ta, họ đã đón Giáng Sinh không có Chúa Hài Đồng, nghĩa là họ chỉ lo biểu diễn thời trang, chuẩn bị vật chất tiệc tùng mà không chuẩn bị đón Chúa bằng cố gắng nội tâm.
Noi gương các nhà đạo sĩ, chúng ta hãy khiêm cung tôn thờ Tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Lễ Hiển Linh cũng nhắc nhở chúng ta về tính phổ quát của ơn Cứu độ được thực hiện trong Đức Giêsu: ơn Cứu độ được dành cho mọi người. Không có ai bị loại trừ. Muôn dân trên thế giới đều được mời gọi đến lãnh nhận. Phong cảnh hùng vĩ của Giê-ru-sa-lem, nơi xuất phát ơn Cứu độ, được diễn tả trong Bài đọc I, đã nói lên điều ấy. Với Hài Nhi Giêsu, vinh quang của Thiên Chúa đã chiếu tỏa và rạng ngời trên chúng ta.