Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Làm chứng về ánh sáng

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG B:
“Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. 
Ga 1,6-8.19-28
 
Phái đoàn đến phóng vấn Gioan Tẩy Giả hôm nay gồm hai nhóm.
Nhóm thứ nhất có các thầy tư tế và người Lêvi. Họ chú ý đến Gioan Tẩy Giả là điều tự nhiên, vì ông là con của Giacaria, mà Giacaria là thầy tư tế (Lv l,5).
Trong Do Thái giáo, chức vụ tư tế là do cha truyền con nối. Người nào không phải là hậu duệ của Aaron, thì không có gì làm cho người ấy trở thành thầy tư tế được.
Còn nếu người ấy là con cháu của Aaron thì đương nhiên sẽ trở thành tư tế. Do đó dưới con mắt của các nhà cầm quyền, Gioan Tẩy Giả quả là một thầy tư tế, và tự nhiên các thầy tư tế phải tìm hiểu xem tại sao lại có một thầy tư tế hành động bất thường như vậy.
* Nhóm thứ hai gồm những người đại diện cho giới Biệt phái. Rất có thể là sau lưng họ còn có Toà án Tối Cao.
Một trong những nhiệm vụ của Tòa án Tối Cao là phải đối phó với những ai bị nghi ngờ là tiên tri giả. Gioan Tẩy Giả là một nhà truyền đạo được dân chúng mến chuộng và theo rất đông. Có lẽ Tòa án Tối cao thấy họ có trách nhiệm phải tra xét xem ông có phải là tiên tri giả hay không. Gioan Tẩy Giả đã không theo đúng cung cách bình thường của một thầy tư tế và ông cũng không theo đúng phong thái của một nhà giảng đạo. Chính vì thế mà các nhà chức trách tôn giáo thời đó bó buộc phải nhìn ông với cặp mắt nghi kỵ. Đó cũng là một điều hết sức tự nhiên.
1. Họ hỏi ông có phải là Đấng Messia không? Tại sao họ lại hỏi ông như thế? Thưa vì dân Do Thái đã trông chờ Đấng Messia từ rất lâu. Thậm chí cho đến lúc đó người ta cũng vẫn còn đang trông chờ. Bất cứ một dân tộc nào đang bị đô hộ cũng trông mong được giải phóng như thế. Dân Do Thái tin rằng họ là tuyển dân của Chúa Giavê nên họ không nghi ngờ gì về việc chẳng chóng thì chày Thiên Chúa sẽ can thiệp để cứu dân Ngài. Họ trông chờ một Đấng Messia sẽ đem hòa bình đến cho cả thế giới. Cho nên khi họ hỏi Gioan Tẩy Giả xem ông có phải là một Đấng Messia hay không thì đó là một điều rất hợp lý.
Gioan bác bỏ hoàn toàn việc tung hô đó: "Tôi không phải là Đấng Messia."
2. Họ hỏi ông có phải là Êlia không.
Dân Do Thái tin rằng trước khi Đấng Messia giáng lâm, Êlia sẽ trở lại để loan báo trước và chuẩn bị cho thế gian tiếp rước Ngài. Đặc biệt Êlia sẽ đến để dàn xếp mọi bất hoà. Ngài sẽ phân định những gì và những ai là thanh sạch hay không thanh sạch. Ngài sẽ phân chia đâu là người Do Thái, đâu là người ngoại bang. Ngài sẽ đem lại đoàn kết, hoà thuận cho các gia đình từng xa lạ với nhau.
Họ tin tưởng điều đó mạnh đến nỗi luật xưa của người Do thái nói rằng nếu có gì về tiền bạc hay của cải còn đang tranh chấp, hoặc bất cứ tài sản nào còn bị xem là vô chủ thì đều phải đợi "cho tới khi nào Êlia đến". Niềm tin rằng Êlia phải đến trước Đấng Messia bắt nguồn từ Malakhi 4,5. Người ta còn tin rằng chính Êlia sẽ xức dầu cho Đấng Messia làm vua cũng như tất cá các vua đã được xức dầu.
Gioan Tẩy Giả cũng phủ nhận tất cả những vinh dự đó.
3. Họ hỏi ông có phải là nhà tiên tri được hứa ban và mọi người trông đợi không.
Căn cứ vào lời bảo đảm của lãnh tụ Môisê với dân trong sách Thứ Luật 18,15: "Từ giữa anh em, trong số các anh em của anh (em), Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh (em); anh em hãy nghe vị ấy".
Đó là lời hứa mà dân Do Thái sẽ không bao giờ quên. Họ chờ đợi sự xuất hiện của một nhân vật sẽ là tiên tri vĩ đại nhất và trông mong nhân vật ấy như là nhà "tiên tri lý tưởng". Có nhiều người còn nghĩ rằng cả Isaia và nhất là Giêrêmia cũng sẽ trở lại lúc Đấng Messia đến.
Nhưng lại một lần nữa Gioan Tẩy Giả không thừa nhận vinh quang là của mình.
Vậy họ hỏi ông là ai?
Ông nói mình chỉ là tiếng nói khuyến giục mọi người dọn đường cho Nhà Vua. Ý ông muốn nhắc lại một lời trong Isaia 40,3 mà tất cả các Tin Mừng đều trích dẫn câu này để ám chỉ Gioan Tẩy Giả. Ý niệm ẩn tàng trong câu ấy là: "Đường đi bên Đông phương, mặt đường gồ ghề và thường chỉ là những lối mòn. Khi một vị vua sắp đến thăm một tỉnh, hoặc khi nhà chinh phục sắp kéo quân đi qua lãnh thổ của mình thì đường xá phải được san bằng, dọn thẳng  thu xếp lại cho có trật tự." Điều mà Gioan Tẩy Giả muốn nói với mọi người là: "Ta chẳng là ai cả, ta chỉ là tiếng kêu, kêu gọi các người hãy chuẩn bị sẵn sàng đợi nhà vua đến". Ông muốn nhắc lại rằng: "Hãy tự sửa soạn đi! Nhà vua đã lên đường rồi đó". Ông muốn mọi người hãy quên ông đi để chỉ thấy Nhà Vua mà thôi.
Tới đây chúng ta có thể dừng lại. Thử hỏi chúng ta có thể tìm được bài học nào cho chúng ta trong hoàn cảnh hôm nay hay không? Có rất nhiều bài học nhưng tôi xin được nói tới sự trung thực nơi con người của Gioan.
Trước hết là sự trung thực trong lời nói: Rất trung thực khi nói về chính mình, không dám nhận những vinh quang mà người đời gán cho.
Thứ đến là trung thực với lòng mình. Chính vì muốn trung thực với lòng mình nên ngài đã vui lòng chấp nhận một cuộc sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối.
Vá cuối cùng là trung thực trong những phán đoán về người khác. Ngài đã không sợ khi phải thẳng thắn khuyên vua Hêrôđê không đựơc phép lấy vợ của anh mình. Vì sự sự trung thực này mà Ngài đã phải trả giá bằng cái chết chẳng toàn thây. Nhưng sự trung thực ấy đã làm sáng lên cuộc đời chứng nhân của mình.
Đức Cha Tiamer Toth trong một cuốn sách viết cho giới trẻ có tựa đề là "Chí khí người thanh niên" có nói đến một tấm gương mà ngài ước mong các bạn trẻ hãy nhìn vào đó mà bắt chước. Truyện như thế này: Regulus là một tướng của La Mã bị quân Carthage bắt làm tù binh. Sau một thời gian mệt mỏi vì chiến tranh, người Carthage muốn cầu hòa với người La Mã. Người mà thành Carthage chọn để đứng đầu phái đoàn lại chính tướng Regulus. Trước khi lên đường dân Carthage bắt Regulus phải thề: nếu sứ mạng cầu hòa của họ bị thất bại thì Regulus phải trở về nhà tù trở lại. Regulus đã thề.
Chúng ta có thể tưởng tượng được sự xúc động của tướng Regulus khi về tới La Mã, thành phố quê hương yêu quý của ông như thế nào không! Rất vui mừng nhưng cũng đầy khó khăn. Regulus sẽ phải hành động làm sao đây?
Với tất cả tài lợi khẩu, ông yêu cầu thượng nghị viện cứ tiếp tục chiến tranh; nghị viện yêu cầu ông ở lại La Mã, viện cớ rằng: lời thề vì cưỡng bách không có giá trị. Nhưng ông trả lời:
“Các ngài có muốn để tôi mất danh dự không? Tôi thừa biết rằng những khổ hình và giờ chết đang đợi tôi khi tôi trở lại. Nhưng những cái ấy không thấm thía vào đâu khi so sánh với sự ô nhục của một hành động bất lương với sự tổn thương của tâm hồn do một lời nói dối. Đành rằng tôi sẽ lại là tù binh của dân Cathage nhưng ít ra tôi vẫn giữ được chí khí của tôi mà dân La Mã sẵn có với sự trong sạch của nó. Tôi đã thề hứa sẽ trở về với họ thì tôi giữ lời hứa cho đến cùng. Vì thế các ngài hãy phó mặc mạng sống tôi cho các Thần Thánh”.
Và Regulus đã trở về Cathage, ở đấy tướng công đã chết giữa những cực hình khủng khiếp.
Đó là chí khí và lòng quả cảm của một người công dân La Mã!
Gioan cũng đã sống như vậy và Chúa Giêsu Chúa của chúng ta chắc cũng muốn cho chúng ta sống như thế. Amen.


Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

TIỂU SỬ
THÁNH CÊCILIA, TRINH NỮ TỬ ĐẠO

Cêcilia thuộc gia đình quí phái sống tại Roma dưới thời vua Alexander Sêvêrô.
Cuộc bách hại thật dữ dằn. Một mình trong gia đình là Kitô hữu, Ngài luôn mang theo cuốn Phúc âm và sống đời cầu nguyện bác ái. Mỗi khi tới hang toại đạo là nơi Đức giáo hoàng Urbanô bí mật cử hành thánh lễ, đoàn người ăn xin đợi chờ Ngài trên đường đi Roma, chìa tay xin Ngài phân phát của bố thí. Dưới lớp áo thêu vàng, Cêcilia mặc áo nhậm mà vẫn tỏ ra bình thản dịu dàng.

Trong khi giới trẻ đương thời mê say nhạc trần tục, lòng Cêcilia hướng về Chúa và ca tụng một mình Ngài thôi. Đáp lại lòng đạo đức của Ngài, Thiên Chúa cho Ngài được đặc ân được thấy thiên thần hộ thủ hiện diện bên mình.

Cha mẹ Cêcilia gả Ngài cho một nhà quí phái tên là Valêriô yêu Cêcilia nồng nhiệt, ông không biết Ngài theo Kitô giáo, nhưng ông có một tâm hồn ngay thẳng.

Ngày cưới, Cêcilia mặc chiếc áo nhặm duới lớp áo ngoài sang trọng và khẩn cầu Chúa giữ cho mình được trinh nguyên. Giữa những tiếng ca vui nhộn, Cêcilia vẫn theo thói quen cùng với các thiên thần ca hát những khúc thánh thi. Bởi đó mà các người Kitô hữu hay nhận Ngài là bổn mạng của các nhạc sĩ. Chúa Giêsu khấng nghe lời ca trong trắng tự lòng vị hôn thê trẻ dâng lên Ngài.

Khi chiều về, Cêcilia nói với Valêriô: “Thưa chúa công, em có điều này muốn nói với anh, không bàn tay trần tục nào được động tới em, vì em có một thiên thần bảo vệ. Nếu anh tôn trọng em, Ngài cũng yêu mến anh và ban ân phúc cho anh”.

Ngạc nhiên và rất cảm kích, Valêriô đã ao ước nhìn thấy thiên thần.

Cêcilia mới nói rằng: "Anh phải chịu phép rửa tội đã". Rồi nàng giải thích mầu nhiệm cứu rỗi các linh hồn cho ông nghe.

Cô đề nghị: “Anh hãy tới đường Appianô. Anh sẽ gặp những người nghèo khổ và lấy danh nghĩa em để xin họ dẫn anh tới gặp cụ già Urbanô đang ẩn náu trong hang toại đạo. Vị giám mục này sẽ dạy dỗ anh hay hơn em, Ngài sẽ chúc bình an cho anh, sẽ mặc cho anh bộ áo trắng tinh. Rồi trở lại đây anh sẽ thấy thiên thần của em”.

Valêriô theo lời vị hôn thê của mình, đến đường Appianô và được dẫn tới vị giám mục. Ngài dạy đạo và rửa tội cho ông. Trở về với Cêcilia, ông gặp nàng đang cầu nguyện, có thiên thần bên cạnh, khuôn mặt thiên thần rực sáng, tay cầm hai triều thiên kết bằng hoa huệ và hoa hồng.

Rồi thiên thần đặt một chiếc trên đầu Cêcilia và một chiếc trên đầu Valêriô và nói: "Hãy giữ lòng trong trắng để xứng đáng bảo vệ những triều thiên này, chúng từ vườn của Thiên Chúa, không bao giờ tàn tạ, chẳng hề lạt hương".

Thiên thần còn nói thêm: "Hỡi Valêriô, bởi vì anh đã biết nghe lời hiền thê của anh, vậy anh xin điều gì anh muốn".

Valêriô có người em ông yêu thương lắm tên là Tiburtiô, ông xin: "Con muốn em con cũng biết đạo thật như con"

Thiên thần trả lời: "Điều anh xin rất đẹp lòng Chúa. Vậy hãy biết rằng: Tiburtiô và anh sẽ lên trời với ngành vạn tuế tử đạo".

Ngay lúc ấy Tiburtiô xuất hiện. Ông thấy mùi hoa huệ và hoa hồng và muốn biết từ đâu mà có hương thơm như vậy giữa mùa này, thứ hương thơm như làm con người ông trẻ lại. Cêcilia đã nói cho Valerio hiểu sự hư không của các ngẫu thần, đã tỏ cho ông thấy sự rực rỡ của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Tiburtiô muốn được sự chỉ dạy, và đến lượt ông, cũng đã lãnh nhận bí tích rửa tội do Đức Giáo hoàng Urbanô.

Cêcilia, Valêriô và Tiburtiô cùng nhau sống đời thánh thiện. Họ phân phát của cải, bố thí cho người nghèo, giúp đỡ các Kitô hữu bị bắt bớ, bí mật cầu nguyện với họ và khuyến khích họ can đảm. Đêm về hai anh em lo chôn cất xác các vị tử đạo.

Chẳng bao lâu họ bị phát giác. Tổng trấn Almachiô ngạc nhiên hỏi: "Các người quan tâm tới các tử tội bị ta kết án hay sao?"

Cêcilia trả lời: "Thật đẹp lòng Chúa biết bao, nếu chúng tôi xứng đáng được làm nô lệ cho những người mà Ngài kết án là tử tội".

Quan tổng trấn nhún vai cho rằng: người đàn bà này mất trí. Ông tách riêng Valêriô và Tiburtiô và cũng hỏi như vậy. Nhưng các Ngài đã khinh thường danh vọng với sang giàu mà Almachiô rất coi trọng. Ông liền kết án trảm quyết các Ngài. Tác giả kể lại cuộc tử nạn các Ngài đã nói: "Người ta thấy các Ngài chạy xô tới cái chết như tới dự một đại lễ".

Cêcilia thu lượm và chôn cất xác các Ngài. Nàng vẫn tiếp tục bao bọc cho các Kitô hữu bị bách hại. Almachiô liền tống giam các Ngài. Bị vấn danh Ngài nói: "Tôi tên là Cêcilia, nhưng Kitô hữu là tên đẹp hơn nhiều của tôi".

Quan tổng trấn bắt nộp tài sản của Valêriô và Tiburtiô. Cêcilia trả lời để tất cả đã được phân phát cho người nghèo rồi. Tức giận Almachiô truyền cho Cêcilia phải dâng hương tế thần ngay nếu không sẽ phải chết. Cêcilia cười trả lời: "Chư thần của ông chỉ là đá, đồng chì, và Ngài tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô mà thôi".

Các binh sĩ xúc động nghị rằng Ngài sắp phải chết nên nài nỉ: "Cô sang trọng và trẻ đẹp, hai mươi tuổi đầu hãy dâng hương tế thần đi, đừng để chết uổng".

Nhưng Cêcilia trả lời họ rằng: “Các ông không biết rằng chết vào tuổi tôi, không phải là đánh mất tuổi trẻ, nhưng là đổi chác vì Thiên Chúa sẽ trả lại gấp trăm cái người ta dâng cho Ngài sao? Nếu người ta đưa quí kim để đổi lấy vật tầm thường, các ông có ngập ngừng không?”

Nghe Cêcilia, một số binh sĩ hoán cải. Quan Almachiô mất bình tĩnh truyền giam Ngài vào phòng tắm. Căn phòng đầy hơi nóng. Cêcilia không hề thấy khó chịu. Almachiô truyền chém đầu Ngài. Lý hình ba lần dùng gươm mà chỉ gây nên được một vết thương ghê rợn. Thánh nữ đã cầu xin để được gặp Đức Giáo hoàng Urbanô đến lo linh hồn mình. Ngài còn sống được 3 ngày, được gặp Đức Urbanô, rồi lãnh triều thiên thiên thần đã hứa.

Các Kitô hữu chôn táng Ngài và tôn trọng thái độ lúc Ngài tắt hơi, đầu không cúi gục như bông hoa tàn.

Người ta tin rằng Thánh Cecilia được chôn tại Catacomb ở Callistus sau khi bà tử vì đạo vào năm 177 SCN. Bảy thế kỷ sau, Giáo hoàng Pascal I (817 - 824) đã cho xây dựng Nhà thờ Thánh Cecilia trên quảng trường Trastevere ở Rome, và muốn chuyển di thể bà về đó. Tuy nhiên lúc đầu, ông không thể tìm thấy di thể bà và tin rằng nó đã bị đánh cắp. Trong một linh ảnh, ông thấy Thánh Cecilia, người thúc đẩy ông tiếp tục cuộc tìm kiếm, và rằng ông đã rất gần mộ của bà. Ông nỗ lực lần nữa, và sớm tìm thấy di thể của vị thánh tử vì đạo được che rèm trong một chiếc màn thêu vàng xa xỉ với những miếng vải thấm máu dưới chân bà, thay vì được cất giữ tại Catacomb ở Callistus. Thi thể bà, cùng với Valerian (chồng bà), Tiburtius, và Maximus (một viên chức La Mã), cũng như các Giáo hoàng Urbanus và Lucius được Giáo hoàng Paschal I đưa đi chôn cất dưới một án thờ Thánh Cecilia ở Trastevere.

Gần 800 năm sau. Trong đợt phục tích nhà thờ năm 1599, Cardinal Sfondrato chịu trách nhiệm phục chế nhà thờ và có sáng kiến khai quật bên dưới án thờ chính, với hy vọng tìm được thi thể của Cecilia và những người đàn ông tử vì đạo khác được mai táng ở đó bởi Paschal. Ngày 20 tháng 10 năm 1599, những người thợ của Sfondrato đã đào được quan tài bằng đá cẩm thạch của vị thánh. Trước sự chứng kiến của vài nhân chứng, đích thân Hồng y Sfondrato đã mở chiếc quan tài bằng gỗ bách bên trong, thì thấy xác thánh còn nguyên vẹn trong bộ y phục viền vàng, còn vấy nhiều vết máu, có vết thương tích trên cổ, đầu quay úp xuống đúng trong tư thế khi lìa đời gần 1,500 năm về trước.

Giáo hoàng Clement đã đặt làm một chiếc quan tài bằng bạc tinh xảo bọc vàng để chứa chiếc quan tài bằng gỗ bách của Cecilia, và ở ngoài cùng là chiếc quan tài lớn hơn bằng cẩm thạch. Vì sự kính trọng với vị thánh, ông không cho phép khám xét thêm về thi thể của vị thánh tử vì đạo.

Sự tái xuất hiện di thể Thánh Cecilia đã gây ra một sự xúc động mạnh cho công chúng ở Rome. Sự cuồng nhiệt của đám đông vây quanh Hoàng cung La Mã lớn tới mức Cardinal Sfondrato gần như bị xô đẩy tới chết. Giáo hoàng Clement cuối cùng đã phải cử đội bảo vệ Thụy Sĩ đến khôi phục trật tự. Ngày 22 tháng 11 năm 1599, Clement đã tới Hoàng cung La Mã để tổ chức một ngày hội vinh danh vị thánh. Sau khi di hài Thánh Cecilia được mai táng trở lại bên dưới án thờ, nó đã trở về nơi ban đầu được tìm thấy.

Khi ngôi mộ của vị thánh được mở cửa năm 1599, Stefano Maderno (1566 - 1636), người xây dựng đài phun nước ở quảng trường Thánh Peter, nhận nhiệm vụ tạc lại điều mà ông thấy. Lời đề tặng nói: “Hãy nhìn ngắm di hài của trinh nữ vĩ đại nhất, Cecilia, người mà tôi đã thấy nằm bất hoại trong ngôi mộ. Tôi để tác phẩm cẩm thạch này biểu lộ vị Thánh trong một tư thế tương tự.” Bà nằm nghiêng bên phải với chiếc đầu đặt sấp và chiếc khăn quấn quanh đầu bà. Cả hai tay bà đều buông xuống gối và các ngón tay bên phải duỗi ra. Thân thể bà được lại thấy trong tư thế mà nhà điêu khắc thể hiện.




Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Tử Đạo Trong Thời Đại Mới

Tử Đạo Trong Thời Đại Mới



            Hằng năm, chúng ta mừng lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chúng ta hạnh diện và tự hào về những gì cha ông chúng ta đã sống và hành đạo. Và đây cũng là dịp nhắc nhớ chúng ta về sự hy sinh, đau khổ của các ngài phải chịu đựng đau đớn bởi gông cùm, xiền xích, gươm giáo, đầu rơi, máu chảy. Chết cho niềm tin, các ngài trở thành tấm gương sáng cho chúng ta về đời sống đức tin hôm nay.Tuy nhiên, với trong bối cảnh xã hội ở thế kỷ 21, chúng ta ít được chứng kiến với những cuộc bắt đạo hay cuộc hành hình tàn bạo như ngày xưa, nhưng không có nghĩa là chúng ta không có những con người và những vị anh hùng tử đạo. Việc cấm bắt đạo có thể dưới những hình thức khác nhau. Sự tự do tín ngưỡng vẫn còn bị đàn áp và khống chế, người Ki-tô hữu đang phải chịu áp bức và đau khổ bởi cơ chế xã hội và con người.

Ngày nay, khái niệm tử đạo được hiểu rộng hơn. Tử đạo là người dám chết cho công lý, cho hòa bình, cho con người, nhất là những người nghèo khổ đang bị áp bức. Họ chết vì chính Đạo. Chết vì muốn sống theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu, người Ki-tô hữu sống cho chân lý Phúc Âm. Cụ thể, cha Maximilianô Kolbê, ngài đã tự nguyện chết thay cho một người bạn tù đã có gia đình trong trại tập trung thời Đức Quốc xã. Vào năm 1971, Đức Phaolô VI không coi cha là vị tử đạo, chỉ coi ngài là một người chịu đau khổ vì đức tin. Nhưng, khi cha được phong thánh vào năm 1982, thì Đức Gioan Phaolô II đã coi ngài là một vị tử đạo. Trong bài giảng phong thánh cho cha Kolbê, Đức Thánh Cha nói: “Cha đã đón nhận cái chêt vì yêu người đồng loại, cái chết ấy lại không làm cho cha Kolbê giống Đức Kitô sao?. Đức Kitô là mẫu mực của mọi vị tử đạo, là Đấng hiến mạng sống mình cho anh em.”

Trong Tông Thư “Tiến đến thiên niên kỷ thứ ba”, Đức Thánh Cha kêu gọi các Giáo Hội địa phương lập danh mục các vị tử đạo mới của thế kỷ này. Vì “trong thế kỷ này, có những người tử đạo âm thầm, họ như thể là “những chiến sĩ vô danh” vì đại cuộc của Thiên Chúa. Giáo Hội không chỉ có những người đổ máu vì Đức Kitô mà còn có những bậc thầy về đức tin, những nhà truyền giáo, những người tuyên xưng đức tin, những giám mục, linh mục, các tu sỹ nam nữ, giáo dân, những người kết hôn, góa bụa và trẻ em” (TMA. 37).

Ngày xưa, các vua quan Việt Nam đã dùng Thập giá làm phương tiện để thách đố niềm tin của các vị tử đạo. Họ gọi đó là “Quá Khóa” dùng Thập giá để vạch ranh giới giữa cái sống và cái chết: bước qua hay không bước qua Thập giá. Bước qua là được tiếp tục sống, được trả lại tự do với tất cả những gì họ đã mất, được tặng thêm bao phú quý vinh hoa. Nếu không bước qua là phải chấp nhận tù đày và mất mạng sống. Chỉ cần một quyết định là mọi chuyện sẽ thay đổi. Chỉ cần một bước chân là cuộc sống trở nên được an toàn bảo đảm. Có người đã bước qua thập giá, nhưng có nhiều người không bước qua. Có người được khiêng qua Thập giá nhưng họ đã co chân lên, như Thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua Thập giá, nhưng sau đó họ lại hối hận, đó là trường hợp của ba vị thánh Augustino Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể và Đaminh Đinh Đạt... Vua Quan đã bày ra trước mặt các ông 10 cây vàng, một tượng Chúa Chịu Nạn và một thanh gươm, rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển”. Đây là một sự chọn lựa rất khó khăn giữa cái sống và cái chết. Chọn lựa này nói lên thái độ của người Ki-tô hữu sống đức tin. Như Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được”. Thánh Stêphanô Ven nói: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo Thập giá, nay tôi lại đạp lên Thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quý hóa đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”

Nhiều vị tử đạo đã được mời giả vờ bước qua Thánh giá, để các quan có cớ tha cho, còn đức tin bên trong thì quan không đụng đến. Đây là một cám dỗ khá tinh vi, nếu các ngài chấp nhận theo họ. Nhưng liệu tôi có thể chà đạp Đấng mà tôi tôn thờ không? Đứng trước Thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hòa hay lập lờ. Không ai có thể làm tôi hai chủ. Các Thánh Tử đạo là những chứng nhân cho niềm tin và hy vọng mãnh liệt vào sự sống đời sau. Cái chết thật đau đớn và khủng khiếp, nhưng các ngài nhìn thấy thế giới mới ở đàng sau cái chết. Các ngài nhìn thấy thiên đàng là nơi sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu. Chính vì thế, tử vì đạo thì không bao giờ là bi đát hay tuyệt vọng. Trái lại, cái chết trong đức tin là sự bình an, vui tươi và hạnh phúc các ngài được gặp Thiên Chúa.

Các Thánh Tử đạo là những chứng nhân dám sống và chết cho niềm tin, cho tình yêu, cho chân lý của Tin Mừng. Tuy, chúng ta không được ơn tử đạo giống như các ngài, nhưng chúng ta cũng chết đi cái tôi ích kỷ hẹp hòi thì chúng ta mới trở nên chứng nhân cho Chúa. Đó là vác thánh giá trong sống hằng ngày để đi theo Chúa, khi chúng ta bị hiểu lầm, coi thường, phỉ báng, kết án, ganh ghét v.v. Làm chứng cho Tin mừng thì trả giá bằng sự hy sinh và chịu đựng, chúng ta đón nhận sự đau khổ như là một hình thức tử nạn để chết đi mỗi ngày bởi tội lỗi của mình, đó cũng là cách thức của tử đạo. Khi ta trả giá cho sự đau khổ càng cao, thì lời chứng Tin Mừng càng có giá trị và đáng tin cậy.

Mỗi thời đại có cách làm chứng khác nhau. Chúng ta có thể học được từ các tấm gương cho Tin Mừng của Chúa Ki-tô, như cha Kolbê, Mẹ Têrêsa Calcutta, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II, các ngài là những chứng nhân sống động cho chúng ta trong thời đại hôm nay. Hơn nữa, chúng ta cần tìm ra cho mình con đường sống sao cho phù hợp với giá trị Tin Mừng. Ngày nay, với tiện nghi của cải vật chất đang lôi cuốn chúng ta vào cơn xoáy thị trường với sự hưởng thụ, tiền bạc, khoái lạc và quyền lực, cho nên, ý nghĩa tử đạo và làm chứng cho Tin Mừng lại càng trở nên mờ nhạt. Khi ta ý thức được như thế, thì lời mời gọi sống Tin mừng là một điều cấp bách và cần thiết cho chúng ta khi đối diện với những cơn cám dỗ thời đại.

Là con cháu của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta hãy biết tự hào và tiếp nối truyền thống con người Việt. Chúng ta sống và hành đạo theo cha ông chúng ta đã sống và làm chứng đức tin, và chúng ta hãy noi gương các ngài và làm chứng Tin Mừng trong môi trường và gia đình của chúng ta đang sống và làm việc, đó cũng là cách thức chúng ta nhớ ơn và kính nhớ các ngài. Thánh giá của Chúa Giê-su là dấu hiệu của một tình yêu dâng hiến và lòng khiêm hạ tận cùng.

 Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ban phúc lành cho mọi người chúng con sống chứng nhân Tin Mừng trong đời sống thường ngày. Amen.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

CHÚA NHẬT XXX TN A: GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/8/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ tại Nhật, đó là "Sư máy".  Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi đưa lên, một tay thì gõ mõ.  Mỗi vị sư máy có thể cầu kinh không biết mỏi mệt, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật.  Sáng kiến này được đưa ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật.  Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận: những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương.
Yêu thương là đặc điểm của con người.  Thú vật có thể có cảm giác, nhưng đó không hẳn là yêu thương.  Chỉ có con người được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa tình yêu mới thực sự được mời gọi yêu thương mà thôi.
Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta ơn gọi cao cả của con người.  Trả lời cho thắc mắc của luật sĩ, Chúa Giêsu đã thu tóm tất cả lề luật thành một giới răn duy nhất là mến Chúa và yêu người.  Hai mệnh lệnh này là một giới răn duy nhất, bởi vì không thể kính mến Chúa mà lại ghét bỏ hình ảnh của Ngài là con người, cũng như không thể yêu thương con người mà lại không nhận ra và yêu mến Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu chân thật.  Tách biệt hai mệnh lệnh ấy là chối bỏ tình yêu.  Các luật sĩ và các biệt phái thời Chúa Giêsu quả là những người đạo đức: họ ăn chay, cầu nguyện và tỏ ra yêu mến Thiên Chúa hơn ai hết; thế nhưng Chúa Giêsu đã điểm mặt họ là những kẻ giả hình, bởi vì lòng yêu mến Chúa nơi họ không được thể hiện bằng tình yêu đối với tha nhân.  Chúa Giêsu còn gọi họ là những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì bóng loáng, nhưng bên trong thì thối rữa.  Có thể so sánh thái độ giả hình ấy với một người máy: người máy có thể làm được nhiều cử chỉ ngoạn mục, nhưng không có một tâm hồn để yêu thương thực sự.

Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Đạo.  Đi Đạo, sống Đạo, giữ Đạo, xét cho cùng chính là yêu thương; không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn.  Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: "Thiên Chúa là Tình Yêu", và ngài dẫn giải: "Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Đấng nó không thấy".

Nguyện xin cho cuộc sống của chúng ta ngày càng được thanh luyện và gần gũi hơn với cốt lõi của Đạo là Yêu Thương.



Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 19/10/2014 TẠI PHƯỢNG VĨ: SỐNG TRUNG THỰC TRONG THỜI BUỔI HIỆN ĐẠI

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 19/10/2014 TẠI PHƯỢNG VĨ
SỐNG TRUNG THỰC TRONG THỜI BUỔI HIỆN ĐẠI
            Kính thưa quý ÔBACE, đặc biệt là quý cô, dì, chú, bác, các anh chị, các, bạn, các em tôn giáo bạn hiện diện trong thánh lễ hôm nay. Hàng năm, giáo hội công giáo dành riêng một ngày Chúa Nhật áp chót tháng 10 để cầu nguyện cho việc truyền giáo. Truyền giáo là gì? Thưa: Truyền giáo theo nguyên nghĩa Latinh là “Missio”, động từ là “Mittere”. Động từ này nhiều nghĩa. Một trong những nghĩa thường được hiểu là: gửi đi, sai phái để làm một việc quan trọng. Vậy truyền giáo là ra đi kể lại cuộc đời của Chúa Giêsu về tất cả những gì Người đã nói, đã làm, và đã sống cho muôn dân, nhờ sức của Chúa Thánh Thần.
            Hôm nay, tôi xin kể cho quý ÔBACE nghe về Chúa Giêsu, Đấng “là Sự Thật” (Ga 14,6) cho quý ÔBACE nghe.
Sự Thật là Trung Thực. Trung thực là hết lòng với mọi người,là thật thà, là ngay thẳng. Người có đức tính trung thực là người luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, ngay thẳng, thật thà, là người luôn được mọi người tin tưởng. Trong cuộc sống ngày nay, đức tính trung thực được biểu hiện trong các kì thi của giới học sinh như không có hiện tượng quay cóp, chép bài hoặc xem bài của bạn...Và đức tính này cũng được biểu hiện trong xã hội như có những người ngay thẳng, không nỏi sai sự thật, không tham lam của người khác. Trong kinh doanh,nếu là người ngay thẳng, họ sẽ không sản xuất những loại hàng kém chất lượng, kinh doanh những mặt hàng bất hợp pháp, làm nguy hại đến người tiêu dùng...những người nào mang trong người hoặc đang rèn luyện đức tính trung thực thì những người đó sẽ dần hoàn thiện nhân cách của họ, sẽ được mọi người mến yêu và tôn trọng. Nếu rèn luyện đức tính trung thực, chúng ta sẽ thành đạt trong cuộc sống, chúng ta sẽ có vốn tri thức để làm giàu một cách chân chính, và nếu chúng ta mắc sai lầm, ta sẽ dễ dàng sửa chữa được nó và hoàn thiện mình thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, làm cho xã hội chúng ta trở nên trong sạch, văn minh và tốt đẹp, khiến đất nước ngày càng đi lên và phát triển đến tầm cao.
Đồng thời, bên cạnh những người biết hoàn thiện bản thân để trở thành công dân tốt vẫn có những người có biểu hiện thiếu trung thực và sai trái. Chúng ta cần phải phê phán và lên án những biểu hiện như vậy. Biểu hiện rã nhất là trong giới học sinh hiện nay, nạn học giả, bằng thật do quay cóp, chép bài của bạn, gian lận trong thi cử đã trở thành một tệ nạn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, đến ý nghĩa của việc dạy và học, gây xôn xao xã hội.
Một biểu hiện thứ hai tương đối rõ ràng là sự thiếu trung thực trong kinh doanh đời sống, đó là việc các báo cáo không trung thực, chất lượng sản phẩm kinh doanh ngày càng kém đi, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng, đặc biệt có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đe dọa tính mạng con người hiện nay như các sản phẩm, các mặt hàng được người dân tiêu dùng hàng ngày, điển hình là các loại sữa có chứa chất độc hại melamine gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, hay ngay các loại nước mắm cũng có chứa chất ure độc tố, hoặc cả các loại rau quả, trái cây hiện nay như rau xanh hay quả tươi đều được người trồng trọt tiêm nhiễm các loại hóa chất vì lợi nhuận của bản thân... Những hành vi trên đều đáng phê phán vì thiếu trung thực, không nghĩ đến sức khỏe của người dân mà chỉ nghĩ đến lợi nhuận của bản thân mình. Chỉ vài biểu hiện trên mà đã nói lên được tính thiếu trung thực đã trở thành căn bệnh phổ biến lây lan nhanh trong mọi người dân. Chính căn bệnh này đã khiến xã hội xuống cấp, đạo đức người dân dần bị hạ thấp, phá bỏ những nét đẹp truyền thống của dân tộc.
Trung thực là thành thực với người và cả với chính mình, luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong từng lời nói và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính.
Tính trung thực giúp con người trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất giúp thuyết phục người khác. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên nhân cách con người. Sống trung thực không phải lúc nào cũng dễ, nó đòi hỏi sự dũng cảm và nghiêm khắc với bản thân. Walter Anderson cho rằng: “Cuộc sống sẽ thay đổi khi chúng ta biết nắm bắt các cơ hội cho mình, nhưng cơ hội đầu tiên và khó khăn nhất lại là việc chúng ta phải thành thật với chính bản thân mình”. Ngay cả khi phải đối diện với thất bại, thua thiệt, ta vẫn cần phải sống trung thực, có thế, ta mới có thể ngẩng cao đầu mà sống và cảm thấy thanh thản trong lòng. Người trung thực trước tiên là trung thực với chính bản thân mình, thành thật nhìn nhận những nhược điểm và sai lầm của mình. Họ nhận thức được là dù họ có công khai nhìn nhận sai lầm của mình hay không thì thường những người xung quanh vẫn biết. Một người chân chính không chỉ trung thực với những gì đang và sẽ diễn ra, mà còn trung thực với những điều mình đã nói, những lỗi lầm của mình đã xảy ra trong quá khứ. Một khi đã rèn luyện cho mình một thái độ sống như vậy, chắc chắn cuộc đời ta sẽ tươi sáng hơn, được mọi người quý trọng hơn trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Trong bất kỳ giai đoạn nào, bất kỳ xã hội nào cũng đều quý trọng những người sống trung thực. Đó là một đức tính cần có của một con người chân chính.
Báo Tuổi Trẻ ngày 17/9/14 đưa tin, theo báo cáo của Thanh Tra chính phủ, trong gần một triệu người kê khai tài sản năm 2013, chỉ một người kê khai không trung thực. Quả là một con số tuyệt đẹp về lòng trung thực hôm nay? Bài báo đặt câu hỏi. Cũng năm 2013, khi điều tra về nợ xấu của các ngân hàng, người ta phát giác ra sự tiêu cực của những cán bộ được phân công định giá tài sản của những người đi vay ngân hàng. Những người làm công tác giám định gian dối này đã kê khống giá trị tài sản thế chấp để người đi vay được vay nợ với số tiền lớn, rồi chia lại theo một tỷ lệ nào đó cho người định giá. Ví dụ miếng đất thế chấp trị giá thực chỉ 500 triệu đồng thì người định giá kê thành 3 tỷ đồng, để số tiền vay được duyệt là 1,8 tỷ. Người cho vay và cán bộ định giá chia nhau số tiền vay được. Khi đổ bể, người vay không có đủ tiền trả, ngân hàng sẽ thu nợ bằng tài sản thế chấp nhưng nó không đáng gì so với số tiền đã vay không trả được. Nợ xấu không đòi được là như vậy. Đó chính là hậu quả của sự thiếu trung thực.
Chuyện vui nhà đạo hôm nay còn kể: Một cặp vợ chồng kia sống không lương thiện, chỉ ham kiếm tiền bằng mọi cách có thể. Một hôm, người chồng nghe nói về việc có người được ơn nhờ đi khấn đền Thánh Giuse. Anh ta cũng nghe đồn Ông Thánh Giuse tại đền rất thiêng, xin gì được nấy. Nhân ngày thứ tư đầu tháng, anh ta nói vợ mua chục bông huệ, cả hai áo quần tề chỉnh lên đền xin khấn. Đặt bó huệ trước chân tượng đài Thánh Cả, người chồng lớn tiếng kêu cầu: ”Xin Ông Thánh Giuse thương giúp cho con trúng số chiều nay. Con có mua một cặp 5 tấm, nếu con trúng độc đắc, con xin dâng vào đền Thánh 3 tấm”. Bà vợ nghe thấy vậy bèn bấu tay chồng nói nhỏ: “Sao mà nhiều thế, ông Thánh chỉ cần 2 tấm là Ngài vui rồi“. Chồng nạt lại: ”Bà thì biết cái gì, tôi đã hứa  dâng là dâng cho đáng, đừng có mà bủn xỉn, Thánh không nhận lời đâu!”. Về đến nhà, thấy vợ không vui, hắn tiết lộ: ”Tôi nói là nói vậy với ông Thánh thôi. Đây nè! trong ví tôi còn cặp này 10 tấm nữa nè. Chiều nay tha hồ mà hốt…”.
Con người dễ dàng chóa mắt trước tiền của, dám lừa nhau: lừa chồng lừa vợ, lừa bố mẹ, lừa thầy cô bạn bè, lừa trên dối dưới, lừa mọi người và lừa cả Thánh, cả Chúa. Tiền bạc có thể mua chuộc con người với nhau, nhưng không thể mua chuộc nước Trời, mua chuộc chân lý. Đức Kitô không khuyên ta làm điều gian dối, lấy tiền bạc mà mua nước trời như có người nghĩ theo nghĩa đen: Cứ làm ăn gian dối, lừa lọc, rồi lấy phần nào đó trong số tiền bất chính thu được để làm từ thiện, bác ái, chắc Chúa sẽ ban ơn thêm cho: mục đích không biện minh cho phương tiện.
Người ta thường nói “thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương”. Vì thế, “lương tâm không bằng lương tháng”. Đó là một thực tế buồn, rất có thể là một phần do suy thoái đạo đức, ảnh hưởng nhiều thứ – dù ai cũng “nhân chi sơ tính bản thiện”!
Người ta chưa xác định câu: “Xin hãy dạy con tôi chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận trong thi cử” có phải của cố tổng thống Hoa kỳ Abraham Lincoln hay không. Nhưng dù thế nào thì câu đó vẫn tuyệt vời, dù đó là của ai. Người Việt cũng có câu: “Thà chết vinh hơn sống nhục”. Xã hội có nhiều loại người, nhưng tóm gọn 2 loại chính: Trung thực và lọc lừa, dĩ nhiên mỗi loại có mức độ rất khác nhau.
Sống trung thực sẽ “mất” sự gần gũi, thân thiện, thiếu thoải mái… nhưng “được” những cái vô giá: Sự khâm phục, nể trọng, quý mến,… Dám sống trung thực là điều không dễ. Những người sống trung thực thường cảm thấy “cô đơn”, lạc lõng giữa xã hội phức tạp. Người ta có xu hướng “an phận”, ai sao mình vậy, không dám đấu tranh vì Chân-Thiện-Mỹ, chỉ cần hai chữ “bình an”. Xưa nay, trong mọi lĩnh vực: Xã hội, tôn giáo, chính trị, giáo dục,… những người dám thể hiện tính trung thực, nói thẳng nói thật, không xu nịnh là “hàng hiếm”, “hàng độc”. Người dám trung thực cũng phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều, vì “nói thì dễ mà làm thì khó”, rất cần phải có lòng dũng cảm, dám sống “trong” dù đời “đục”.
 Trong cuộc sống, đối với bất kỳ lĩnh vực nào cũng vậy. Dám làm thì phải dám chịu. Không gì hơn là “cứ là chính mình”. Đó là một dạng trung thực. Người ta có thể che mắt người khác nhưng không thể giấu giếm được chính mình. Sống trung thực, MẤT thì có MẤT, mà ĐƯỢC thì vẫn ĐƯỢC. Theo tôi, cái ĐƯỢC nhiều nhất là tâm hồn mình thanh thản, dù người khác có thể không muốn “gần gũi” mình, chẳng qua là họ ngại và tự thẹn thôi.
Lịch sử thế giới đã và đang cho chúng ta thấy những tấm gương trung thực, dù người đó có thể bị người khác “xa lánh”, nhưng thời gian sẽ cho người ta biết câu trả lời chính xác nhất.
Kinh thánh cho biết: “Thiên Chúa duy nhất và chân thật” (Ga 17,3). Thánh Phaolô nhắc lại: “Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật” (Rm 3,4), và giãi bày: “Chúng tôi không phải như nhiều người, những kẻ xuyên tạc Lời Chúa, mà với tư cách là những người trung thực, được Thiên Chúa sai đi, chúng tôi lên tiếng trước mặt Người, trong Đức Kitô” (2 Cr 2,17).
Không trung thực có liên quan điều răn thứ 8. Sống trung thực là một cách tuân giữ điều răn Chúa dạy, cũng là cách thể hiện đức tin, là làm chứng về Thiên Chúa chân thật.
Chúa Giêsu đã xác định: “Có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).
Xin cho mỗi người chúng ta hãy sống theo Thầy Giêsu, hãy rao giảng cho mọi người biết Giêsu: sống trung thực theo Đấng Là Sự Thật, dù chấp nhận “khác người”, thiệt thòi, hiểu lầm và cả cái chết, cho xã hội và giáo hội ngày càng bình an và hạnh phúc hơn. Amen.


Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 2014

GIẢNG LỄ TRUYỀN GIÁO 2014
Kính thưa Quý cụ ông, cụ bà, quý bác bá, anh chị tôn giáo bạn cùng toàn thể cộng đoàn dân Chúa đang hiện diện trong thánh lễ hôm nay.
Trong “Một gợi ý Mục vụ TÂN PHÚC-ÂM-HÓA ĐỂ THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN – PHÚC-ÂM-HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH”, Ủy ban Mục vụ Gia đình (Hội Đồng Giám Mục Việt Nam) viết: “Qua Thư Chung của HĐGMVN ngày 10.10.2013, các Đức Giám mục kêu gọi Cộng đoàn Dân Chúa tại Việt Nam tích cực tham gia vào công cuộc Tân Phúc-Âm-Hóa trong kế hoạch ba năm 2014-2016. Đặc biệt, “trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hãy cùng nhau Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình và thúc đẩy gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ Loan báo Tin mừng. Hội Thánh được gọi là gia đình của Thiên Chúa và mỗi gia đình Ki-tô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đình, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đình”. 
Truyền giáo là gì?
Theo Bách Khoa Từ điển thì Truyền giáo là “truyền bá một tôn giáo cho những người khác, trong nước hay ngoài nước. Truyền giáo là công việc của mọi tôn giáo, nhưng có tổ chức, có quy mô nhất là việc Truyền giáo của Đạo Ki-tô.” Sở dĩ Ki-tô giáo được coi là “truyền giáo có tổ chức, có quy mô” chặt chẽ, vì chính Đấng Sáng Lập Hội Thánh truyền dạy: "Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 19-20). Lệnh truyền đó bắt nguồn từ tình yêu vô hạn của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, với mục đích tối hậu là làm cho loài người được cứu rỗi, nhờ hiệp thông với Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. 
Chúng ta thường xuyên nghe nói đến hai chữ “Truyền Giáo”. Nguyên gốc của chữ này là một danh từ tiếng La Tinh “Missio”, động từ là “Mittere”. Từ này có nhiều nghĩa. Và một trong những nghĩa thường được hiểu là: gửi đi, sai phái đi, để làm một công tác quan trọng.
 Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian, để cứu độ con người. Chính Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ ra đi, lên đường, để cộng tác với Ngài trong sứ mạng cao cả này. Như vậy, truyền giáo mang ba đặc tính của sự “ra đi” hay theo Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2014 của ĐGH Phanxi cô nói như sau: “Hội Thánh được sinh ra để “đi ra”.
 Thứ nhất: Truyền giáo là “đi ra” khỏi con người của mình: Chúng ta ai cũng có khuynh hướng ích kỷ, khép kín và coi mình là trung tâm. Ta thường lấy mình làm tiêu chuẩn để phán đoán người khác. Ai không có lối suy nghĩ giống ta, thì bị phê bình chỉ trích.
 “Ra đi” khỏi cái tôi của mình. Nghĩa là chấp nhận người khác cùng với ý kiến lập trường của họ, là quảng đại bao dung khi bị xúc phạm. Truyền giáo, chính là thoát ra khỏi cái vỏ bọc ích kỷ, để hòa đồng với anh chị em mình, tôn trọng sự khác biệt của nhau; và sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì ích chung.
 Các môn đệ đầu tiên, khi nghe Chúa Giêsu kêu gọi, đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Các ông từ bỏ những dự tính nghề nghiệp, từ bỏ môi trường gia đình, làng xóm. Các ông không hề băn khoăn lo lắng cho ngày mai. Nhưng sẵn sàng bước theo Chúa, vì các ông tin rằng: Theo Chúa, thì sẽ không phải thiệt thòi hay thất vọng.
Thứ hai: Truyền giáo là “đi ra” khỏi những định kiến: Cuộc sống này được thêu dệt bởi những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ. Bước ra khỏi những định kiến, để đón nhận nhau trong tình huynh đệ hài hòa, không phân biệt lập trường chính trị, tôn giáo, hay quan điểm xã hội.
 Kinh nghiệm cho thấy:
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo mà sống gò bó trong quan niệm khắt khe, thì không thể truyền giáo có hiệu quả.
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo mà dửng dưng với những giá trị trần thế, hoặc khép mình trước những biến cố vui buồn của cuộc sống chung quanh, thì sẽ là một con người, một gia đình, một họ Đạo ảm đạm u sầu, thay vì hân hoan hy vọng.
 · Một con người, một gia đình, một họ Đạo không dấn thân phục vụ hạnh phúc con người, thì sớm muộn gì, cũng sẽ trở nên một thứ ao tù, không lối thoát và thiếu sinh khí.
 Thứ ba: Truyền giáo là “ra đi”, để kể lại cuộc đời của Chúa Giêsu cho mọi người. Câu chuyện về Chúa Giêsu đã được kể từ 2014 năm nay, mà vẫn không lỗi thời. Lời giảng của Chúa Giêsu đã được loan báo từ hơn 20 thế kỷ, mà vẫn không mất tính thời sự.
Ngày nay, cuộc đời của Chúa Giêsu đã và đang được kể lại một cách phong phú, không chỉ qua sách vở, mà còn qua cuộc đời của các tín hữu. 
Như thế, xuyên qua con người của ta, người khác có thể đọc được cuộc đời của Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã cảm thông với người đau khổ, đã chữa lành người bệnh tật, đã phục sinh người chết, đã chúc lành và chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn trong ngày cưới.
 Như vậy, truyền giáo chính là sống như Chúa Giêsu đã sống, yêu như Chúa Giêsu đã yêu. Truyền giáo là có trái tim như trái tim của Chúa, có đôi mắt như đôi mắt của Chúa. Trái tim để yêu và đôi mắt để trao gửi tình thân.
Tại sao chúng ta phải truyền giáo? Ngày nay vẫn còn rất nhiều người không nhận biết Chúa Giêsu Kitô.
Trong quá khứ, có lẽ đã có người trả lời rằng: bởi vì chỉ có đạo Công giáo mới là đạo thật, còn các đạo khác dạy điều dối trá sai lầm, thờ lạy bụt thần ma quỷ! Nhưng thực tế, câu trả lời ấy không còn đứng vững khi mà hiện nay người ta nhận thấy rằng không phải các tôn giáo đều dạy điều quấy quá. Không đúng !
Thông điệp “Sứ mạng Đấng Cứu Thế” số 11 đã trình bày lý do phải Truyền giáo một cách khác. Ngoài mệnh lệnh của Đức Kitô sai các môn đệ đi khắp thế giới giảng đạo, Thánh Gioan Phaolô II đặt nền tảng của việc truyền giáo trên quyền lợi cao quý nhất của con người, đó là quyền của con người được biết sự thật. Hội thánh cần phải tôn trọng quyền đó, nghĩa là phải nói cho con người biết sự thật về phẩm giá cao quý của mình. Phẩm giá ấy hệ tại việc Thiên Chúa yêu thương con người, mời gọi con người thông dự vào sự sống của Ngài, nhờ hồng ân cứu rỗi qua Đức Kitô. Hoạt động truyền giáo, nhằm phục vụ chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, đồng thời cũng nhằm phục vụ con người. Truyền giáo là chúng ta muốn thông đạt cho tha nhân hồng ân đức tin quý báu mà chúng ta đã lãnh nhận, và hồng ân ấy liên hệ tới hạnh phúc của mọi người.
Sắc lệnh Truyền giáo cũng của Công đồng Vaticanô II cũng đề ra 3 lí do :
1/ Chúa Giêsu trước khi về trời đã dạy: " Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân: rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con" (Mt 28,19-20). Nên Hội Thánh phải vâng lời Đức Kitô mà thi hành sứ mạng truyền giáo cho muôn dân.
2/ Chúa dạy: "Hãy đi khắp trần gian rao giảng Phúc Âm cho hết mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi: còn ai không tin sẽ bị luận phạt" (Mc 16,15). Vì Giáo hội gọi là Công giáo nên phải truyền giáo cho mọi người, ở mọi nơi trên khắp thế giới do những đòi hỏi căn bản của Công giáo tính.
3/ Với lời mời gọi "Chúng con là muối đất và ánh sáng trần gian" (Mt 5,13-14), nên theo Công đồng Vaticanô 2, "Trong tình trạng thế giới hiện nay đặt nhân loại trong một hoàn cảnh mới, vì thế Giáo Hội, càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài, hầu mọi sự được tái lập trong Chúa Kitô, và nơi Ngài mọi người họp thành một gia đình và một Dân Chúa duy nhất" (Sắc lệnh Truyền giáo số 4).
Truyền giáo là bản chất và là đời sống cuả Giáo Hội. Vì thế, Giáo hội luôn tìm kiếm và khám phá không ngừng những phương thức truyền giáo mới phù hợp với con người mới và thời đại mới, qua những đóng góp không mệt mỏi của các nhà truyền giáo và các nhà thần học. Họ là những người luôn sáng kiến những ý tưởng và cung cấp cho Giáo hội những phương cách mới dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội và soi sáng của Chúa Thánh Thần.
Cảm nghiệm sâu xa về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và ý thức về lệnh truyền giáo của Đức Giêsu Phục sinh, mỗi người cũng phải luôn canh cánh trong lòng như lời thánh Phaolô : "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1C 9,16). Và thánh Phaolô còn căn dặn mọi người : "Phải rao giảng Lời, lúc thuận tiện cũng như lúc khó khăn” (2Tm 4,1-2). Như thế, lời của Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ xưa : "Ra khơi mà thả lưới đánh cá" (Lc 5,4), vẫn vang vọng nơi tâm hồn mỗi người và như lời Thánh Gioan Phaolô II viết : "… Với tư cách là những tông đồ đích thực, trong những giờ khắc âu lo, ta hãy hướng nhìn về Chúa để thưa với Ngài, chúng con sẽ tiếp tục thả lưới, cho dù phải hy sinh và bị hiểu lầm, chúng con phải công bố sự thật đầy đủ và chính thức về con người của Ngài, về Hội Thánh mà Ngài đã thiết lập, về con người và thế giới đã được cứu chuộc bằng máu Ngài, chứ không theo chủ trương giảm trừ giản lược hay diễn tả một cách mơ hồ, dị nghĩa”.
Truyền giáo bằng cách nào?
Truyền giáo không phải là kiểu mình thường gặp trong cuộc sống: xin – cho, hoặc xót thương thì bố thí. Không! Truyền giáo ở đây là loan báo Đức Kitô như một Tin Vui Tuyệt Vời cho thế giới. Tin Vui Tuyệt Vời này đã đi vào đời mình, biến đổi mình. Một khi đã gặp và hiểu Tin Vui Giêsu ấy, đời mình không thể thiếu vắng Người được nữa. Vậy thì ta loan truyền Tin Vui Giêsu bằng những nghĩa cử rất thật, rất gần ngay trong ngày cuộc sống thường nhật. Ví dụ: Ta chỉ cần:
 -  Trao một nụ cười thân thiện để phá vỡ khoảng cách giữa người với người.
 -  Trao một lời an ủi khi ai đó sầu đau, mất mát, tuyệt vọng.
 -  Gửi một tin nhắn, gọi một cú điện thoại hỏi thăm.
 -  Dắt tay một cụ già hay em nhỏ qua đường.
 -  Mỉm cười với sự trân trọng khi mua một bó rau của một người nghèo.
 -  Cảm ơn người ăn xin trước cửa nhà mình.
 -  Trao lời ngỏ muốn giúp một tay đối với đồng nghiệp.
 -  Trân trọng và tế nhị xin được giúp đỡ với lời cảm ơn chân thành.
 -  Quyết tâm từ chối cộng tác, vào hùa với sự giả dối trong học đường, trong công sở, hay bất cứ nơi nào mình sống.
 -  Nhặt một vài cọng rác, vỏ kẹo, bao ni-lông bỏ vào thùng rác để giữ đẹp cho môi trường công cộng.
 -  Đeo một thánh giá trên mình như một dấu chỉ niềm tin vui.
 -  Nói thật, sống thật, làm chứng cho sự thật, tôn trọng sự công bằng dù chấp nhận thiệt thòi, hiểu lầm.
 -  Bênh vực, bảo vệ, đứng về phía kẻ bị oan ức, yếu thế, nghèo hèn.
 -  Lắng nghe trong tôn trọng đối với khác biệt của tha nhân, nhất là về niềm tin tôn giáo của họ.
 -  Chấp nhận một lối sống khác biệt để sống theo lời dạy của Chúa, của Giáo hội và của nề nếp gia phong gia đình như là “bơi ngược dòng” giữa một xã hội “yêu cuongf sống vội” và “sống nháp thử” như ngày hôm nay.
 - Trả lại của rơi cho người bị mất.
- Sống trọn đạo hiếu với Trời, với các đấng bậc sinh thành và với những người có công với mình.
 Còn nhiều và rất nhiều nữa những cách thức truyền giáo sống động và hoàn toàn khả thi, chúng ta hãy thêm vào nhé!  
Nguyện chúc tất cả quý OOBACE, đặc biệt các Quý vị tôn giáo bạn hiện diện nơi đây được Thiên Chúa chúc lành cho Quý Vị và gia đình luôn được bình an và tràn đầy niềm vui. Amen.